+++Coperate contact info+++

Monthly Archives: Tháng Bảy 2013

TCVN 9170:2012 về Yêu cầu kỹ thuật tưới bằng phương pháp phun mưa

Nhằm giúp bà con tìm hiểu và áp dụng phương pháp tưới phun mưa một cách hiệu quả, chúng tôi xin gửi tới bà con bộ tiêu chuẩn TCVN 9170:2000 như file đính kèm để bà con tham khảo.

Rất mong bà con áp dụng đúng và gặt hái thành công trong sản xuất nông nghiệp.

Trong bộ tài liệu, chúng tôi đặc biệt lưu ý, hiện nay bà con hầu hết bố trí vòi phun rất dày, thường thì bán kính của thiết bị giả sử là 8m, thì bà con đặt khoảng cách các béc tưới là 8m. Điều đó là bởi, bà con chọn những thiết bị tưới không đảm bảo sự đồng đều, thậm chí bán kính thực tế kém xa so với thông số kỹ thuật. Dẫn đến chi phí đầu tư sẽ rất lớn, chi phí đường ống có thể tăng gấp đôi, gấp ba so với những thiết bị tưới chất lượng cao – có khả năng tưới đồng đều cao, đồng thời số béc tưới cũng tăng gấp đôi.

Sơ đồ bố trí béc tưới hiệu quả - tiết kiệm
Sơ đồ bố trí béc tưới hiệu quả – tiết kiệm

Sơ đồ đặt béc được khuyến khích bởi Nhabe agri khi sử dụng thiết bị tưới Nelson là theo hình tam khác, khi đó khoảng cách đặt béc (Dr) bằng 1,73 x R (R là bán kính tưới). Giả sử, bán kính tưới Nelson R33 là 14m, khoảng cách đặt béc Dr = 14m x 1,73 = 24m đặt một béc.

Trong khi đó, với thiết bị tưới Nelson, với hai đặc tính nổi trội đó là tưới đồng đều trong phạm vi bán kính tưới, và bán kính tưới lớn giúp tiết kiệm tối đa chi phí (cả đường ống và chi phí béc tưới), đồng thời với những dự án lớn, sẽ giúp tối đa hóa sự tiện lợi trong việc áp dụng cơ giới hóa trong canh tác, thu hoạch.

Khả năng tưới đồng đều của thiết bị tưới Nelson Hoa Kỳ
Khả năng tưới đồng đều của thiết bị tưới Nelson Hoa Kỳ

Giả sử với cánh đồng cỏ chúng tôi thực hiện tại Củ chi, khoảng cách mỗi béc tưới có thể đạt 20m-22m. Xem file demo đính kèm

Trong bộ TCVN 9170-2012. tưới phun mưa tự động, có nhiều điểm tính toán khá phức tạp, đặc biệt việc xác định đường ống, máy bơm, mô hình bố trí… để giúp bà con dễ hiểu, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ bà con qua đường dây nóng 0983 23 08 79.

 

Cơ giới hóa nông nghiệp: Thấy mà lo!

Bãi thải của hàng ngoại.

Thiết bị cơ giới là tay chân của nông nghiệp hiện đại. Nhưng thực tế buồn ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, tới 90% thiết bị máy móc phục vụ SXNN hiện nay đều phải NK.

Việc cơ giới hóa trong SX ì ạch, nhiều khâu như chăm sóc, thu hoạch, chế biến… gần như “trắng” về máy móc. 

“Máy VN thì xin kiếu!”

Tới Siêu thị Máy nông nghiệp (Vinacomm) nằm tun hút trong Khu đô thị mới Nam Trung Yên (Cầu Giấy, Hà Nội), dù thời điểm này chẳng phải mùa gặt nhưng lúc nào cũng nườm nượp khách, đông nhất phải kể tới khách hàng tìm mua máy gặt đập liên hợp (GĐLH).

Khách hàng tới đây hầu hết là những nông dân đi dép tổ ong, đến từ khắp các tỉnh phía Bắc. Họ cho biết, sở dĩ lần mò được tới đây là bởi nhờ “search” (tìm) trên mạng internet, biết ở đây có bán máy GĐLH của Nhật.

Vỗ vỗ vào thân chiếc máy GĐLH hiệu Kubota của Nhật Bản đã cũ mèm trưng bày trước sảnh siêu thị, một nông dân tên Toàn ở xã Lam Điền (huyện Chương Mỹ, Hà Nội) gật gật đầu tấm tắc: “Trông cũ thế thôi, nhưng tôi từng xem con máy này của ông bạn tôi chạy rồi, sướng khủng khiếp! Cần gạt điều khiển êm ru, chạy lối nào ra lối đó, xoay xở rất linh hoạt, gặt sát tận các góc ruộng.


Một mẫu máy GĐLH “què quặt” do VN sản xuất bị nông dân la ó, tẩy chay

Máy này còn có thùng chứa tới 6 tạ, gặt hàng chục phút mới phải xả thóc qua vòi xả một lần, chứ không phải cầm bao tải ngồi hứng thóc lách nhách trên máy. Đã thế, nó còn có cả chế độ cắt – đánh tơi rơm, hoặc giữ nguyên thân rơm tùy ý, gặt thì cứ gọi là sạch tinh, không sót một hạt, mà ruộng bùn sục, lầy nước gì cũng chạy bon bon… ”.

Cắt đà hứng khởi của ông Toàn, tôi bảo: “Bác cứ hay sính ngoại, máy GĐLH của VN cũng tốt đấy, người Việt phải dùng hàng Việt chứ?”. Nghe tôi bảo, ông Toàn xua tay, lắc đầu nguầy nguậy: “Thôi thôi, đừng có nhắc tới cái của nợ ấy. Tôi làm cái nghề dịch vụ máy gặt mấy năm rồi, còn lạ gì. Được thì máy Nhật, máy Hàn, mà không thì máy Trung Quốc (TQ) còn tạm, chứ máy GĐLH của VN thì xin kiếu!”.

 Ông Toàn bảo: “Mấy vụ trước, tới vụ gặt cũng từng có rất nhiều đơn vị về huyện trình diễn máy GĐLH của Việt Nam rất rầm rộ. Nghe qua quảng cáo giới thiệu thì hay, nhưng khi đưa ra ruộng gặt thì dở ẹc. Máy chạy ruộng khô còn tạm, chứ chạy ruộng sụt không xoay trở nổi, gặt thì sót, xả rơm rối tung rối mù, lại hay nghẹt, máy điều khiển bằng vô-lăng nhưng rất khó, chạy chẳng ra hàng ra lối gì…

Có ông bạn tôi ham rẻ, mua máy VN SX về chạy được vài vụ bây giờ bung bét nhưng chẳng có phụ tùng để thay, chỉ muốn vứt đi cho xong. May mà mấy vụ rồi tôi mua con máy TQ dùng tạm ổn, giờ đang tính đổi sang máy Nhật, chứ vớ phải con máy của VN thì chết chắc!”.

Thị phần ngày một tóp lại

Nói về thị trường máy nông nghiệp hiện nay, anh Nguyễn Văn Thủy – GĐ Siêu thị Máy nông nghiệp đánh giá, sản phẩm máy GĐLH hiện vẫn là mặt hàng sôi động nhất trong tất cả các loại máy cơ giới nông nghiệp, đặc biệt là kể từ khi phong trào xây dựng cánh đồng mẫu lớn (CĐML) phát triển rầm rộ trên cả nước. Ở miền Bắc, có thể nói nếu không có CĐML, thị trường máy GĐLH không thể mở toang như bây giờ.

 Ông chủ siêu thị máy cho biết, máy GĐLH mỗi năm Cty bán mấy trăm chiếc, và tiềm năng thị trường được đánh giá là sẽ còn rất lớn trong vòng ít nhất 5 năm nữa mới có thể bão hòa. Đây cũng là mảng miếng ngon ăn khiến các DN kinh doanh máy nông nghiệp có thể sống khỏe. Tuy nhiên, sản phẩm máy GĐLH giúp DN kinh doanh máy nông nghiệp “kiếm được” chỉ có thể là máy ngoại!

Anh Thủy phân tích, thị trường máy GĐLH ở nước ta hiện nay có thể chia thành bốn mảng chính: Một là máy Nhật hoặc máy Hàn Quốc “xịn” (máy mới, trong đó chủ yếu là máy Nhật); hai là máy Nhật và máy Hàn Quốc “bãi” (máy cũ); ba là máy TQ, và cuối cùng là máy VN.

Theo đó, cơ cấu thị trường phân chia như sau: Ở ĐBSCL, máy Nhật (gồm cả hàng “bãi” và hàng “xịn”) và Hàn Quốc chiếm 60%, máy TQ chiếm khoảng 30% và 10% còn lại thuộc về máy VN. Xu hướng ở vùng này, đó là máy Nhật và máy Hàn Quốc “xịn” đang và sẽ lên ngôi chiếm lĩnh hoàn toàn thị trường trong thời gian tới.

Ở thị trường non trẻ phía Bắc: Máy Nhật hiện ước chiếm 60%, máy TQ chiếm 30% và máy VN chỉ chiếm khoảng 10%. Về xu hướng thị trường máy GĐLH ở phía Bắc, máy Nhật “bãi” được ưa chuộng nhất, trong khi đó thị phần máy TQ và VN đều đang “teo” lại. Đặc biệt, máy VN thì từ năm 2012 đến nay rất khó bán!

Vì sao thị phần máy GĐLH của VN ngày càng teo lại? Anh Nguyễn Văn Thủy bảo: Chẳng phải DN kinh doanh máy không ủng hộ phát triển hàng nội, nhưng ủng hộ làm sao nổi khi máy GĐLH nội địa quá yếu!

Anh Thủy nêu cụ thể: Ngoài số lượng máy GĐLH tự chế đang “chết dần chết mòn” ở ĐBSH, hiện chỉ có 3 mẫu máy GĐLH là GGD-120, MGD-140 và MGD-220 do Cty CP Động cơ – Máy nông nghiệp miền Nam (Vikyno – Vinapro) SX có thể coi là các sản phẩm máy GĐLH nội địa đang tham gia thị trường. Tất cả các mẫu máy này đều đã từng được chào hàng tại Siêu thị Máy nông nghiệp của anh Thủy.

Trong đó, hai mẫu máy MGD-120 và MGD-140 có ưu điểm giá rẻ (chỉ khoảng hơn 100 triệu đồng/chiếc) nên từ năm 2012 trở về trước, mỗi năm Cty anh còn bán lẻ tẻ được 4-5 chiếc ở phía Bắc. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian tung ra thị trường, vô số nhược điểm của hai mẫu máy này đã bị nông dân la ó tẩy chay.

Riêng mẫu máy MGD-220 có thể coi là có chạy tốt, thì giá bán lại quá đắt, tới trên 400 triệu đồng. Với giá này, nông dân không mặn mà gì vì đắt tương đương máy Nhật nên họ bảo thà mua máy Nhật xịn còn hơn! Thế nên từ đầu năm 2013 đến nay, trong khi máy Nhật, máy TQ nhập khẩu Cty của anh Thủy bán hàng trăm chiếc vẫn “cháy” hàng, thì cả 3 mẫu máy của Vikyno – Vinapro không thể bán được chiếc nào.

“Mấy vụ vừa rồi chúng tôi cũng từng rất nỗ lực đưa các mẫu máy do VN sản xuất đi trình diễn, gần đây nhất ở Sóc Sơn (Hà Nội). Tuy nhiên đưa máy xuống ruộng, máy không thể chạy nổi, gặt thì sót, rơm rối, hay nghẹt, rất khó điều khiển… nên nông dân la ó quá trời. Như thế còn bán được cho ai?” – anh Thủy lắc đầu ngao ngán.

 

Thẳng thắn mà nói thì một vài mẫu máy GĐLH do VN sản xuất có thể nói vẫn cạnh tranh được về chất lượng với máy TQ. Nhưng cái yếu nhất của máy VN khi ra thị trường là phụ tùng, phụ kiện đi kèm rất ít, trong khi đó máy TQ phụ kiện, phụ tùng rất nhiều, thậm chí họ còn khuyến mãi rất hời về phụ kiện nên nông dân rất khoái.

Mà nói là máy do VN sản xuất, nhưng dân trong nghề kinh doanh máy nông nghiệp, ai lại chẳng biết mấy cái máy đó thực ra linh kiện, phụ tùng quan trọng mấy ông ấy đều phải NK về lắp ráp, rồi gia công thêm thắt mà thôi, chứ làm gì có máy GĐLH do VN sản xuất thực sự?

(Anh Nguyễn Văn Thủy, GĐ Siêu thị Máy nông nghiệp)

Cơ giới hóa nông nghiệp. Thấy mà lo (loạt bài)

Bỏ quên và tan tác.

Đánh giá về thực trạng áp dụng cơ giới vào SX nông nghiệp ở nước ta hiện nay, TS Đoàn Xuân Thìn – Phó Tổng thư ký Hội cơ khí nông nghiệp Việt Nam ngừng giây lát rồi chậc lưỡi nhận xét: “Trừ khâu làm đất có thể xem là tạm được, ngoài ra có máy móc gì đâu?”.

 

Nhìn quanh, chỉ thấy máy tuốt lúa, xát gạo

TS Đoàn Xuân Thìn đã đưa ra bức tranh cụ thể về cơ giới hóa ở tất cả các công đoạn trong SX nông nghiệp hiện nay như sau:

Về máy làm đất, mặc dù xuất hiện ở nước ta từ lâu, nhưng thực tế chỉ phát triển mạnh từ khoảng 10 năm trở lại đây. Dẫu vậy, hiện tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp áp dụng cơ giới hóa đã khá lớn, ước đạt khoảng 90-95% ở vùng ĐBSH và ĐBSCL. Tuy nhiên, vùng Trung du MNPB và các vùng núi tỉ lệ này vẫn đang rất thấp, chỉ đạt khoảng 50%. Điều đáng nói, đa số máy làm đất hiện nay lại đều là máy đầu kéo hai bánh công suất rất bé, chỉ từ 8 đến 15 mã lực. Trước xu hướng mở rộng của các cánh đồng mẫu lớn, máy làm đất công suất bé này đang ngày càng lép vế, thay thế vào đó là các loại máy lớn đầu kéo 4 bánh của hãng Kubota đang rất được ưa chuộng.

Về thị phần, máy làm đất do VN sản xuất theo ông Thìn hiện chiếm khoảng 30 – 40%, hầu hết đều do các cơ sở tư nhân nhỏ lẻ SX. Một DN kinh doanh máy nông nghiệp lớn tại phía Bắc lại cho rằng, máy làm đất NK từ Trung Quốc đang chiếm tới 80 – 85% thị trường. Ngoài ra, máy làm đất cỡ lớn của hãng Kubota cũng bán rất chạy. “Nói là máy do VN SX, nhưng thực ra các cơ sở tư nhân họ chỉ làm được bộ khung công tác, còn đầu nổ thì hầu hết là hàng Trung Quốc NK” – vị này cho biết.

Máy gặt đập liên hoàn Kobuta
Nông dân hứng khởi với chiếc máy GĐLH “second hand” hiệu Kubota

Về máy gieo cấy, đáng chú ý nhất có lẽ là máy cấy MC – 6 – 250 do Viện Cơ điện và Công nghệ sau thu hoạch (VIAEP) nghiên cứu SX. Trước đây, máy này từng bán được một số lượng nhỏ ở ĐBSCL, tuy nhiên kể từ khi máy cấy Nhật Bản và Trung Quốc (TQ) NK tràn vào VN, mẫu máy cấy này gần như nằm “đắp chiếu” vì rất nhiều nhược điểm. Ngoài sản phẩm trên, có thể “đếm trên đầu ngón tay” thêm công cụ sạ hàng do một nông dân ở Cần Thơ tự chế và máy gieo đậu tương của ông Nguyễn Hữu Tùy (Ứng Hòa, Hà Nội) SX. Tuy nhiên, máy gieo đậu tương của ông Tùy không hiểu vì sao đến nay cũng gần như mất tăm trên thị trường máy nông nghiệp.

Mảng máy thu hoạch được xem là khó nhất trong lĩnh vực máy nông nghiệp, cũng không sáng sủa gì. Đáng chú ý về máy thu hoạch tạm gọi là “madein Việt Nam” có thể kể tới hai kiểu máy gặt lúa. Đầu tiên là mẫu máy gặt lúa rải hàng (do Cty CP cơ khí chế tạo máy Long An và một số đơn vị tư nhân phía Bắc SX). Mẫu máy này hiện đã trở nên quá cổ lỗ sĩ, không tiêu thụ được trên thị trường khi máy gặt đập liên hợp (GĐLH) chiếm lĩnh, và hàng TQ NK cũng chiếm tới 60 – 70%.

Đối với máy GĐLH, đánh giá của Hội cơ khí nông nghiệp VN cho thấy thời kỳ hoàng kim, số lượng máy GĐLH do các nông dân ĐBSCL tự chế tác (tiêu biểu như Tư Sang, Út “máy cày”…) lên tới khoảng 400 chiếc. Tuy nhiên khi máy GĐLH “ngoại” NK tràn vào, số lượng máy nội địa này ở ĐBSCL hiện chỉ còn 200 máy, đang chạy dặt dẹo chờ ngày thành phế thải.

Nhận xét về thực trạng sử dụng cơ giới trong nông nghiệp, anh Nguyễn Xuân Thủy – GĐ Siêu thị Máy nông nghiệp (Hà Nội), người khá rành về thị trường máy nông nghiệp ngán ngẩm tổng kết: “Ngoài máy làm đất NK của TQ và Kubota của Nhật, máy chăm sóc hiện nay chúng ta chẳng có gì. Máy cắt cỏ, tỉa cành thì chúng tôi toàn nhập hàng TQ và Thụy Điển. Máy tuốt lúa thì mấy vụ rồi Siêu thị chẳng bán được cái nào, tương lai sẽ hết thời. Ở phía Nam, tôi thấy có lẽ chỉ còn lại máy xát gạo của Vikyno – Vinapro SX là đáng chú ý mà thôi”.

 

“Ngoài máy gặt đập, gần đây tôi chỉ thấy có máy cắt mía, máy nâng mía do Viện Cơ điện và Công nghệ sau thu hoạch nghiên cứu SX, nhưng cũng chỉ đang chạy thử nghiệm, chẳng biết có “ra ngô ra khoai gì không”. Ở phía Bắc, nổi nhất có lẽ chỉ có máy tuốt lúa của Cty Việt Nhật (Xuân Tiến, Xuân Trường, Nam Định) SX, nhưng máy tuốt chắc sắp hết thời rồi, bởi máy GĐLH đang nở rộ” – ông Đoàn Xuân Thìn kết lại.

Tan tác cơ khí chế tạo máy nông nghiệp

Sớm tiếp xúc với những thiết bị cơ giới nông nghiệp hiện đại do các nước XHCN viện trợ, nhưng khi mở ra cơ chế thị trường, ngành cơ khí chế tạo máy nông nghiệp chống chếnh, đến nay gần như tan tành.

Từng công tác trong ngành cơ khí nông nghiệp từ năm 1963 rồi trở thành “kỹ sư nông dân”, ông Nguyễn Hữu Tùy (Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội) hiểu rất rõ về sự thăng trầm của ngành cơ khí chế tạo máy nông nghiệp.


Hàng VN mất hút giữa ma trận những loại máy nông nghiệp NK

Ông Tùy nhớ lại thời kỳ trước đổi mới (1986), Việt Nam đã từng được các nước XHCN viện trợ rất nhiều máy cơ khí làm đất, máy thu hoạch… Tuy nhiên, với đặc thù đồng ruộng của nước ta, việc sử dụng các thiết bị máy viện trợ lúc ấy chỉ dừng lại ở các mô hình trình diễn mang tính chất cổ vũ tinh thần nhân dân là chính. Ngay cả những nông trường lớn ở miền Bắc lúc đó như Nông trường Cao Phong, Sao Đỏ, 2/9, Mộc Châu… cũng chưa tiếp thu được.

Mặc dù vậy, nước ta cũng đã từng xây dựng được một bộ máy quản lí nhà nước chuyên quản lí và phát triển cơ khí máy nông nghiệp (Cục Cơ khí nông nghiệp), mà cụ thể là hệ thống các NM SX thiết bị, phụ tùng cơ khí cấp vùng đảm nhiệm SX, chuyển giao thiết bị, phụ tùng máy nông nghiệp đơn giản cho hàng loạt các xí nghiệp máy kéo. Điều đáng tiếc là sau khi xóa cơ chế bao cấp, cùng với việc bộ máy quản lí chuyên ngành về cơ khí nông nghiệp bị giải thể, hàng loạt xí nghiệp máy kéo và NM SX thiết bị máy nông nghiệp cấp vùng bị xóa sổ, đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật lành nghề về lĩnh vực này mỗi người một phương (mà chính ông là một ví dụ).

Sau những năm dài bị bỏ rơi, đến nay, hệ thống các NM SX cơ khí nông nghiệp của nước ta đã gần như tan tác. Theo nhận xét của ông Tùy, Bộ NN-PTNT hiện chỉ còn lại một đơn vị nhà nước duy nhất là Tổng Cty Cơ điện nông nghiệp và thủy lợi có chức năng SX máy nông nghiệp, nhưng thực chất đơn vị này đã “nhãng” ra mảng máy nông nghiệp từ lâu, hiện chủ yếu làm về mảng thủy lợi – thủy điện. Ngoài ra, một vài NM cơ khí nông nghiệp của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) qua thăng trầm của cơ chế thị trường hoặc sống lay lắt, hoặc xem mảng SX máy nông nghiệp như là nghề “tay trái” nên hàng chục năm qua không có bất kỳ sản phẩm máy nông nghiệp nào ra hồn.

“Vài chục qua, ngành cơ khí nông nghiệp gần như Nhà nước bỏ bẵng. Những nông dân tự mày mò sáng chế như tôi, cùng lắm chỉ có thể SX ra những bộ khung công tác cho máy cày, máy kéo, chứ đầu nổ, máy thu hoạch phức tạp thì làm sao đủ sức để làm? Nếu Nhà nước không có chiến lược dài hơi để xốc lại ngành cơ khí chế tạo cho máy nông nghiệp, chúng ta sẽ mãi trở thành “bãi thải”, thành nô lệ của máy móc nông nghiệp NK, mãi không ngóc đầu lên nổi”.

(“Kỹ sư nông dân” Nguyễn Hữu Tùy)

Cần một "chiến lược" atisô

Hoa atiso
Giá atiso, chiến lược phát triển Atiso tại Lâm Đồng

Tại Lâm Đồng trong vòng hơn một tháng qua – kể từ trận mưa đá chiều 7/5 đến nay, các loại rau Đà Lạt tăng giá vùn vụt; trong đó, atisô (vừa là cây thực phẩm và vừa là cây dược liệu) là mặt hàng được xem tăng cao bất thường nhất. Một kg bông atisô khô ở chợ Đà Lạt trước đây chỉ trên dưới 200.000 đồng thì nay đã đội lên 650.000 đồng.

Điều đáng nói, theo quy hoạch “Dược liệu có tiềm năng khai thác và phát triển của quốc gia” thì atisô là một trong 6 dược liệu cùng với sâm Ngọc Linh, đại hồi, trinh nữ hoàng cung, quế và tràm được ưu tiên phát triển giai đoạn đầu của 40 dược liệu ưu tiên phát triển từ 2011 đến 2020.

Ở Việt Nam, atisô được trồng chủ yếu tại Đà Lạt (Lâm Đồng) và một ít ở Sapa. Tại Đà Lạt, bởi đây là loại cây trồng đặc biệt khó tính nên vào thời hoàng kim nhất, diện tích atisô cũng chỉ đạt đến con số không quá 120ha; trong đó, tập trung ở vùng Thái Phiên của phường 12 khoảng 60ha.

Mặc dầu đến lúc này, loại cây trồng nhập ngoại atisô có thể được xem là cây trồng truyền thống của người dân Đà Lạt nhưng trước sức cạnh tranh khá khốc liệt với các loại cây rau và hoa khác, atisô đã trở nên lép vế. Rồi nữa, với dân nhà vườn Đà Lạt, đây còn là loại cây trồng “phập phù” nhất của xứ rau hoa này.

“Với cây atisô, thời điểm giá tăng cao không dài mà chủ yếu là thấp và kéo dài. Do vậy, nhiều nhà vườn đã phá bỏ cây atisô để trồng rau hoặc hoa công nghệ cao” – ông Hồ Ngọc Dinh, Chủ tịch Hội Nông dân phường 12 (Đà Lạt), cho biết.

Cụ thể, tại phường 12, đến thời điểm này (lúc atisô được giá nhất), diện tích atisô chỉ còn trên dưới 40ha; nếu tính cả Đà Lạt, con số đó cũng không quá 60ha. Trồng atisô cho thu nhập thấp chỉ bằng 1/3 so với trồng rau và 1/4 so với trồng hoa là lý do để nhà vườn Đà Lạt xóa dần diện tích atisô.

Lãnh đạo UBND TP Đà Lạt cho biết, thực hiện chương trình phát triển cây dược liệu ưu tiên của quốc gia, Đà Lạt đã quy hoạch vùng atisô từ 60ha hiện nay lên khoảng 100ha vào năm 2015. Với quy hoạch này, nhẽ ra cây atisô rất cần một cơ chế “đối đãi” đặc biệt; thế nhưng trong thực tế, giá trị của loại cây dược liệu – thực phẩm này lại phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường tự do thì đúng là chuyện rất đáng bàn!

Theo Khắc Dũng – Báo nông nghiệp

Sếp HADICO: Chúng ta đang có lợi thế trong việc lo cho 'cái dạ dày' nhân loại

Hơn 20 năm gắn bó với ngành nông nghiệp cùng chặng đường 38 năm của  Cty TNHH Nhà nước MTV Đầu tư và phát triển Nông nghiệp HN (HADICO), thành công có, thất bại có nhưng không thể phủ nhận được những gì ông làm cho Cty. Ông là doanh nhân VN tiêu biểu 2010 – TS Phan Minh Nguyệt – Chủ tịch HĐTV kiêm TGĐ Cty HADICO.

 hadico
Tâm huyết với trồng rau, nuôi gà
 Xu hướng cạnh tranh trong thời gian tới của thế giới là vấn đề lương thực.
Hadico được giao quản lý và sử dụng hơn 4 ngàn hécta nằm trên 51 xã, phường, thị trấn thuộc 3 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Ninh. Kinh doanh với đầy đủ ngành nghề, nhưng trọng tâm vẫn trồng rau, nuôi lợn, gà… với những công việc mà người nông dân thực thụ vẫn làm, nhưng ở một trình độ cao mang tính nghiên cứu khoa học, chuyên nghiệp hơn.
Riêng mảng rau, từ năm 2010, Hadico dành 91 ha đất tại Hà Nội để sản xuất rau an toàn. Quy trình trồng rau này khép kín từ khâu làm đất đến tiêu thụ, không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng khuẩn đường ruột. Hiện nay, Hadico mỗi ngày bán ra 5 – 7 tấn rau an toàn, mới chỉ đủ cho khối trường học, các khách sạn và bếp ăn tập thể, chứ chưa bán đại trà ra thị trường.
Nếu mọi việc diễn ra theo dự kiến thì Hadico sẽ cung ứng khoảng 10% rau sạch cho Hà Nội. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, nhưng sau khi được Thành phố Hà Nội chấp thuận đầu tư, dự án rau an toàn tại Đan Phượng đang được Cty ưu tiên triển khai nhằm sớm cung ứng sản phẩm rau an toàn cho người tiêu dùng Thủ đô Hà Nội.
Ngoài ra, TS Phan Minh Nguyệt cũng chú trọng hướng Cty phát triển các sản phẩm nông sản chủ lực khác như bười Diễn, cam Canh… là các giống cây trồng và vật nuôi có chất lượng cao.
Không chỉ mở rộng sản xuất, đầu tư mà ông còn trực tiếp chỉ đạo thực hiện các đề tài nghiên cứu cấp cơ sở như : “ Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện quy trình điều khiển hoa Vũ Nữ và hoa Hồ Điệp ra hoa hàng loạt” hay đề tài cấp thành phố “Nghiên cứu các giải pháp công nghệ đồng bộ trong sản xuất và sơ chế một số loại rau hoa trong nhà kính tại khu công nghệ cao Hà Nội”.
Đặc biệt, gần đây ông đã khôi phục và phát triển được giống gà mía với giá trị kinh tế cao, tránh được sự “tuyệt chủng” của giống gà nổi tiếng của mảnh đất hai Vua, Đường Lâm – Sơn Tây vốn rất quý hiếm.
Gà mía nằm trong danh mục nguồn gen vật nuôi cần bảo tồn, thường được thả ở vườn, thịt gà có màu trắng, mỡ vàng, ăn giòn, vị ngọt đậm, thịt chắc, xương nhỏ. Trước đây, những chú gà trống đẹp, trọng lượng 5 – 6 kg thường được dân làng chọn làm lễ vật tiến vua hoặc dùng trong dịp tế lễ đầu năm.
Nhưng cái thời nuôi gà công nghiệp nở rộ, rồi gà thải loại Trung Quốc tràn về, đẩy gà mía vào nguy cơ tuyệt chủng. Với mong muốn khôi phục lại giống gà quý, giúp người dân duy trì giống gà ngon, TS Phan Minh Nguyệt đã nghiên cứu và cho xây những lò ấp trứng gà mía ở xã Kim Sơn, Sơn Tây. Lò ấp trứng bằng điện mỗi ngày cho ra đời hàng nghìn con gà giống.
Hiện nay, Hadico đã nâng lên thành quy mô trang trại tại xã Ba Trại, Ba Vì. Trang trại được Hadico đầu tư khá hiện đại, dự kiến cho ra thị trường mỗi tháng hàng vạn quả trứng gà mía. Bà con không còn phải lo đầu ra khi giống gà ngon, thịt thơm được nhiều người săn đón, nên lượng giống bán ra ngày một nhiều.
Ước mơ vươn xa
Thành công của Hadico và TS Nguyệt là thế nhưng ông vẫn khiêm tốn và lo cho nền nông nghiệp nước nhà.
Ông cho rằng, Nhà nước phải xác định xu thế mà thế giới đang hướng tới của thế kỷ 21 không phải là thế kỷ của dầu mỏ, công nghệ thông tin mà là thế kỷ của lương thực. Với dân số tăng trưởng như hiện nay thì an ninh lương thực là vấn đề rất quan trọng. Người ta khẳng định chỉ vài chục năm nữa thế giới “đánh nhau” không phải vì dầu mỏ mà “đánh nhau” vì lương thực. Vì vậy, nhiều tập đoàn lớn đã và đang xoay sang nông nghiệp để nghiên cứu đầu tư.
Nông nghiệp quan trọng với thế giới thì câu hỏi đặt ra với VN là chính phủ VN đã chuẩn bị như thế nào để tham gia quá trình “điều hành” thế giới với một đất nước có nhiều tiềm năng về nông nghiệp.
Nghiên cứu chiều sâu để sau đó tạo ra được giống lúa chất lượng cao, các sản phẩm nông sản nhằm tạo thương hiệu cho nông sản VN tạo ra giá trị cao chứ không phải số lượng nhiều mà giá trị thấp. Chúng ta chưa chuẩn bị tâm thế cho đầu tư phát triển nông nghiệp, chưa có chiến lược cho sản phẩm nông sản.
Hàng năm nhu cầu nông sản của thế giới rất cao, cụ thể như sản lượng và giá trị giao dịch gạo trên thế giới khoảng 30 tỉ USD, VN chỉ chiếm khoảng 3 tỉ USD; Rau, củ, quả thế giới có sản lượng và giá trị giao dịch khoảng 200 tỉ USD, VN chỉ đạt khoảng 1 tỉ USD. Tuy nhiên, giá trị mang lại cho người dân VN là rất nhỏ, có thể nói là “lấy công làm lãi”.
TS Phan Minh Nguyệt nhấn mạnh : Chúng ta phải làm nông nghiệp công nghệ cao từ bây giờ để tạo ra các sản phẩm hàng hoá đồng đều, có chất lượng cao. Phải xác định được chiến lược về khoa công nghệ, đầu tư chiều sâu, có chính sách về hạn điền… Tương lai, thế giới sẽ cạnh tranh khốc liệt về lương thực. Chúng ta đang có lợi thế trong việc lo cho “cái dạ dày” nhân loại.
Theo Xuân Sơn

Diễn đàn doanh nghiệp