+++Coperate contact info+++

Monthly Archives: Tháng Mười 2013

Thủng vựa nông sản Tây nguyên

Cũng như nhiều nông hộ trồng cà phê ở thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, gia đình chị Nguyễn Anh Đào phải khoan giếng, lấy nước tưới cà phê. “Nhiều nơi khoan xuống sâu cả trăm mét mà vẫn không có nước”, chị Đào nói.

Theo một lãnh đạo thuộc Sở Tài nguyên Môi trường Đắk Lắk, việc khai thác nước ngầm tại địa phương đã vượt mức an toàn. Một nghiên cứu của Đại học Quốc gia Úc thực hiện năm 2008 cho thấy các nông hộ trồng cà phê ở Tây Nguyên tưới 3 lần mỗi vụ. Vậy mà 3 năm gần đây, gia đình chị Đào phải tưới cà phê khoảng 5-6 lượt trước khi mùa mưa tới.

Được xem là thủ phủ của vựa cà phê Tây Nguyên nhưng việc canh tác của Đắk Lắk lại khá nhỏ lẻ và tự phát. Theo ông Nguyễn Hữu Việt, Phó Chủ tịch Thành phố Buôn Ma Thuột, số hộ có diện tích canh tác dưới 2 ha như gia đình chị Đào chiếm khoảng 93%. Quy mô manh mún dẫn đến tình trạng khoan giếng tràn lan vào mùa khô.

Tình trạng khô hạn diễn biến phức tạp trong những năm gần đây nhưng diện tích cà phê mới vẫn tăng theo từng năm. Riêng Đắk Lắk, ông Việt ước tính cà phê đóng góp khoảng 30% việc làm trực tiếp và gián tiếp. Rõ ràng, thiếu nước ngầm là một vấn đề cấp bách, tác động trực tiếp đến sinh kế của một lực lượng lao động đáng kể nơi đây.

Ngoài biến đổi khí hậu, tình trạng khan hiếm nước trong mùa khô còn do con người. Không chỉ bị lâm tặc tàn sát, nhiều cánh rừng còn bị xóa sổ để phục vụ phát triển thủy điện. Trao đổi với NCĐT, Giáo sư Lê Huy Bá nhận xét: “Không có rừng che phủ, lượng nước ngầm trong đất cũng bị suy kiệt, độ ẩm của đất giảm, các vi sinh vật cũng mất theo. Có vùng đã có biểu hiện của sa mạc hóa, hạn hán quanh năm, cây khô cằn không phát triển được”.

Diện tích rừng ở Tây Nguyên bị thu hẹp còn do sự xâm thực bởi làn sóng ồ ạt trồng cao su những năm qua. Ông Bá cũng quan ngại khả năng nguồn cung nước phục vụ cho phát triển nông nghiệp vào mùa khô sẽ bị chia sẻ khi 2 nhà máy luyện alumin ở Nhân Cơ và Tân Rai vận hành hết công suất.

Khác với sự lo ngại của nhà khoa học, lãnh đạo các công ty xuất khẩu cà phê cho biết mối quan tâm của họ luôn là sự biến động giá của cà phê nguyên liệu chứ không phải khô hạn.

Người dành sự quan tâm nhất định đến vấn đề nước ngầm ở Tây Nguyên là ông Nguyễn Lâm Viên, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Vinamit, dù trong danh sách mặt hàng chủ lực của doanh nghiệp không có cà phê. Ông Viên cảnh báo mối nguy thẩm thấu một số loại thuốc bảo vệ thực vật xuống các mạch nước ngầm trong quá trình bơm tưới. Giáo sư Bá phân tích thêm rằng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật bị thẩm thấu có khả năng phá vỡ mạng lưới mao quản của đất, cản trở quá trình hút nước tự nhiên của cây trồng.

Theo ông, nếu không có những thay đổi tích cực, lượng nước ngầm chắc chắn sẽ suy kiệt. Khi đó, những tổn thất sẽ không chỉ dừng lại ở sự mất mát của vựa nông sản Tây Nguyên

Nhà Bè Agri triển khai ứng dụng phần mềm Nelson Overlap

Ứng dụng phần mềm Overlap tại Nhà Bè Agri
Tính toán lượng nước tưới và độ đồng đều
Nelson Overlap là phần mềm riêng biệt được Nelson thuê viết nhằm hỗ trợ cán bộ kỹ thuật của tập đoàn tính toán nhanh chóng và chính xác khả năng tưới đồng đều của mỗi dự án tưới tự động.

Với khả năng tính toán rất nhanh và chính xác cùng nhiều giả thuyết, dữ liệu đầu vào phần mềm giả định sẽ cho ra các kết quả dưới dạng báo cáo bảng biểu, sơ đồ, mô hình 3D, bản vẽ kỹ thuật trong rất nhiều điều kiện khác nhau.

Các điều kiện dữ liều đầu vào gồm: thiết bị đầu tưới (Model, Cỡ họng, loại đĩa tưới); khoảng cách các hàng ống; khoảng cách các đầu tưới; áp suất nước; điều kiện gió (có hoặc không, tốc độ bao nhiêu, hướng gió); chiều cao của cọc đầu tưới; mô hình xếp đầu tưới (tam giác, hình vuông, đi dọc biên; số hàng tưới; cách bố trí luốn – hàng cây…

Đầu ra sẽ trả lại kết quả như: tỉ lệ % tưới phủ lên nhau (phần tưới của đầu tưới này phủ lên phần tưới các đầu tưới liền kề); mức độ % đồng đều phân phối nước; lưu lượng nước (mm/giờ); tổng lưu lượng 1 giờ cho mỗi héc ta; diện tích mỗi đầu tưới có thể tưới phủ; lưu lượng nước thấp nhất – lưu lượng nước cao nhất…

Các dạng báo cáo:
– Báo cáo mô hình 3D
– Báo cáo dưới dạng bảng dữ liệu
– Báo cáo dưới dạng đồ thị
– Báo cáo tại từng vị trí, từng điểm
– Báo cáo phân phối khoảng màu
– …

Với việc ứng dụng phần mềm, công việc thiết kế và phân tích lựa chọn thiết bị tưới đã trở lên rất nhanh chóng – chính xác và hiệu quả.

Đồng thời với mô hình này, bà con có thể hình dung ra hiệu quả như độ đồng đều, lưu lượng nước của từng dòng thiết bị, và từng vị trí – khoảng cách đặt béc.

Sau phần mềm Overlap, Nhà Bè Agri sẽ tham gia tiếp chương trình đào tạo ứng dụng Phần mềm phân tích đầu tưới Rotator® cũng do Nelson triển khai nhằm hỗ trợ tích cực hơn nữa các dự án Nhà Bè Agri triển khai.

Phần mềm đặc biệt có giá trị ứng dụng với những loại cây trồng yêu cầu khắt khe về lưu lượng nước và độ đồng đều như tưới vườn hoa lan…

Cỏ voi VA06 cho đàn bò Bình Định

Tham quan mô hình trồng cỏ voi nhà anh Đức - TX. An Nhơn, Bình Định
Trồng cỏ voi nuôi bò ở Bình Định

Bình Định là tỉnh có đàn bò khá lớn, chiếm gần 27% tổng đàn bò ở duyên hải Nam Trung bộ. Để giải quyết nguồn thức ăn thô xanh cho gần 250.000 con, tỉnh vừa giới thiệu và chuyển giao kỹ thuật trồng giống cỏ voi năng suất, chất lượng cao VA06.

Đàn bò và những thách thức

Theo quy hoạch phát triển, đến 2015 đàn bò tỉnh này sẽ tăng đến 280.000 con và năm 2020 sẽ là 320.000 con. Trong khi đó, diện tích trồng cỏ trong tỉnh chỉ đạt 641 ha, chỉ đáp ứng nhu cầu thức ăn thô xanh cho khoảng 25.000 con bò, chưa được 10% tổng đàn.

Bãi chăn thả và đồng cỏ tự nhiên ngày càng bị thu hẹp (giảm 10 – 20% hàng năm) do các địa phương phát triển mạnh trồng rừng SX và ưu tiên đất phát triển khu công nghiệp. Thêm vào đó, nguồn rơm rạ cũng ngày càng ít đi do chuyển đổi mạnh cơ cấu SX từ 3 vụ còn 2 vụ lúa/năm.

Trong chiến lược phát triển kinh tế của Bình Định, chăn nuôi bò thịt được xác định là một trong những thế mạnh. Do đó, định hướng của tỉnh là đưa ngành chăn nuôi bò thịt hướng tới SX hàng hóa. Để đạt được mục tiêu trên, đồng thời nâng cao chất lượng thịt bò để có thể cạnh tranh trên thị trường, Bình Định bắt đầu đẩy mạnh việc tạo nguồn thức ăn thô xanh quanh năm cho đàn bò.

Mới đây, thông qua Dự án Cạnh tranh nông nghệp và Cty TNHH Tư vấn phát triển công nghệ nông nghiệp miền Trung, ngành NN-PTNT Bình Định đã chuyển giao đến người chăn nuôi kỹ thuật trồng giống cỏ voi VA06 qua 8 mô hình với 240 hộ tham gia tại 5 huyện, thị xã có phong trào nuôi bò mạnh.

Niềm vui của người chăn nuôi

Anh Nguyễn Văn Đức ở thôn Hòa Mỹ, xã Nhơn Phúc (TX An Nhơn) đang nuôi 7 con bò đã “thoát” được nỗi khổ lo toan thức ăn thô xanh cho bò từ khi tiếp cận giống cỏ voi VA06. Anh Đức cho biết: “Sau khi được giới thiệu giống cỏ voi VA06 có năng suất và chất lượng cao, tui trồng 1 lèo 8 sào. Từ khi cỏ cho thu hoạch đến nay, 7 con bò của tui không cần đến rơm và cũng không còn lo công chăn thả chúng nữa, cỏ xanh ăn thoải mái từ sáng đến chiều.

Hiện giá rơm cao đến 300.000 đ/sào mà đâu phải dễ mua, bởi người nuôi bò và thương lái buôn dưa hấu tranh mua rơm quyết liệt. Với 8 sào cỏ voi VA06, ngoài không còn lo lương thực cho chúng, mà đàn bò của tui ăn loại cỏ này cứ mập dụi, nhờ chất dinh dưỡng trong cỏ rất cao”.

Dắt chúng tôi ra cánh đồng trồng cỏ của gia đình mình, anh Đức chặt thử mấy bụi để minh họa: “Loại cỏ này cao hơn loại cỏ voi thường tui trồng trước đây từ 30 – 40 cm, lá cũng rộng và dài hơn nhiều; đặc biệt là thân cỏ mềm từ gốc đến ngọn nên bò có thể ăn tất. Trước đây, nhà nào làm được 1 sào ruộng mới đủ rơm nuôi 1 con bò, bây giờ ai trồng được 2 sào cỏ voi VA06 là nuôi được 3 con bò thoải mái”.

Cũng theo anh Đức, với kỹ thuật trồng mới, các mầm cỏ lên rất đều, giống không bị chết. Trước đây bà con trồng cỏ bằng cách dăm đứng, chỉ có mấy mắc cỏ nằm dưới đất mới lên mầm, những mắc bên trên tiếp xúc với nắng nóng chết hết nên năng suất cho kém.

“Nếu để đúng sau 30 ngày mới cắt thì lứa cỏ sau sẽ lên rất mạnh. Cắt non, lứa sau cỏ lên chậm mà cho năng suất kém. Trong số 8 sào đất trồng cỏ của tui có mấy sào đất gò trước đây không trồng trỉa được gì, bây giờ trồng cỏ tốt ngất trời. Cỏ này mà được “ăn” phân bò thì năng suất cho càng vượt trội”, anh Đức chia sẻ.

Ông Nguyễn Văn Tín, GĐ Cty TNHH Tư vấn phát triển công nghệ nông nghiệp miền Trung cho hay: Cỏ voi VA06 có thể khai thác từ 3 – 5 năm, chiều cao cây cỏ từ 3 – 6 m. Trong quá trình khai thác, tùy đối tượng vật nuôi, người chăn nuôi nên cắt ở độ cao khác nhau để cỏ đạt được năng suất và chất lượng cao nhất.

Đối với con bò, khi khai thác nên cắt ở độ cao từ 1 – 1,2 m là phù hợp. Theo nghiên cứu, nhóm cỏ voi có chu kỳ sinh trưởng phát triển chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu có chất lượng dinh dưỡng cao nhưng sinh khối thấp; giai đoạn 2 chất lượng và sinh khối đều cao; giai đoạn 3 sinh khối cao nhưng chất lượng thấp. Do đó, trong quá trình khai thác cần duy trì cỏ trong giai đoạn 2 để có hiệu quả chăn nuôi cao nhất.

“Qua 8 mô hình được thực hiện tại 5 huyện, thị ở Bình Định, kết quả cho thấy năng suất chất xanh của cỏ VA06 đạt bình quân hơn 341 tấn/ha. Với năng suất trên, 1 ha cỏ bà con có thể nuôi từ 28 – 30 con bò”, ông Tín cho biết.

“Do nhu cầu thức ăn thô xanh cho bò rất lớn, nên khi chúng tôi giới thiệu và chuyển giao kỹ thuật trồng loại cỏ có năng suất, chất lượng cao VA06 bà con rất háo hức đón nhận. Với kết quả cho thấy rất khả quan, chúng tôi hy vọng nếu nhân rộng diện tích trồng giống cỏ này, vấn đề thức ăn thô xanh cho đàn bò sẽ không còn là mối lo lớn”, bà Trần Thị Kim Oanh, PGĐ Dự án Cạnh tranh nông nghiệp Bình Định.

VŨ ĐÌNH

Theo NNVN