+++Coperate contact info+++

Monthly Archives: Tháng Ba 2015

Dây tưới phun mưa Golden Spray A

Dây tưới phun mưa 42mm Golden Spray

Một số hình ảnh sử dụng dây tưới phun mưa

Dây tưới phun mưa 42mm tưới cà chua
Dây tưới phun mưa 42mm tưới cà chua
Dây tưới phun mưa tưới dưa hấu
Dây tưới phun mưa tưới dưa hấu
Dây tưới phun mưa tưới Thanh Long
Dây tưới phun mưa tưới Thanh Long
Dây tưới phun mưa tưới Đu đủ
Dây tưới phun mưa tưới Đu đủ
Dây tưới phun mưa Đài loan
Dây tưới phun mưa Đài loan
Tưới nhỏ giọt cho cây cà phê, hồ tiêu

Phương pháp tưới nhỏ giọt cuốn quanh gốc cho cây tiêu

Đối với canh tác cây Hồ tiêu, yếu tốt nước tưới đóng vai trò đặc biệt quyết định năng suất, chất lượng trái tiêu.

Trong công tác tưới, nguồn nước và nhân công tưới lại là yếu tố quyết định để giúp tiết kiệm chi phí. Chọn đượcphương pháp tưới nước phù hợp có thể giúp bà con giải quyết được vấn đề này.

Cho tới nay, hầu hết bà con vùng Tây nguyên vẫn sử dụng phương pháp tưới dí để tưới cho Cà phê, hồ tiêu. Phương pháp này đơn giản, đầu tư ban đầu không đáng kể, dễ sử dụng, quen thuộc với hầu hết bà con, không đòi hỏi kỹ thuật cao. Tuy nhiên phương pháp này rất hao nước, tốn điện, dầu và tốn nhiều chi phí nhân công, không tưới được phân, thuốc bảo vệ thực vật…dẫn đến chi phí canh tác cao, trong khi năng suất không được cải thiện.

Cho đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều hộ dân lựa chọn và áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước. Đây là công nghệ tưới có nhiều ưu điểm vượt trội, đặc biệt là có thể gia tăng năng suất và chất lượng tiêu, giảm nhiều công chăm sóc và có thể kết hợp bón phân, bón thuốc. Những kết quả đạt được bước đầu từ việc áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt đã cho thấy công nghệ này đem lại hiệu quả cao đối với người trồng tiêu.

Anh Phan Văn Hà, thị trấn Buôn Đôn, Đăk Lak ứng dụng phương pháp tưới nhỏ giọt cho gia đình nhà mình được 2 năm trên diện tích 1ha. Khi chưa áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho vườn hồ tiêu, năng suất đạt được trung bình 12 tấn/ha so với trước đây chỉ đạt 8 tấn/ha (tăng 50%).

Về hiệu quả sử dụng nước, từ nguồn nước giếng khoan, với phương pháp tưới thủ công truyền thống, 4 ngày anh Hà mới tưới xong 1 ha. Đồng thời phải xoay vòng tưới liên tục hàng ngày. Lượng nước tưới trung bình 300 m3/ha/lần tưới, nửa cuối mùa khô thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu hụt nước tưới do lưu lượng giếng không đủ để bơm tưới. Chuyển sang áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, mỗi lần tưới 4 giờ/ha, lưu lượng tưới 60 m3/ha, 2 ngày anh Phong mới tưới 1 lần, mỗi lần vận hành tưới tổng cộng 8 – 9 giờ.

 

Tưới nhỏ giọt tăng năng suất hồ tiêu

Tưới nhỏ giọt tăng năng suất hồ tiêu

Về phân bón, anh cho biết theo kinh nghiệm, trước đây tưới theo theo phương pháp truyền thống anh phải làm bồn tưới và bón phân. Ẩm độ đất trong bồn lúc nào cũng cao do tưới nhiều nước trên 1 lần tưới trong mùa khô và mùa mưa nước đọng trong bồn không thoát nhanh được. Cây tiêu có bộ rễ rất nhạy cảm với ẩm độ, ẩm độ cao là môi trường rất tốt cho nấm bệnh và sâu bệnh hại rễ tiêu phát triển. Ngoài ra, hiệu quả sử dụng phân bón cũng rất hạn chế. Sau khi sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, anh lên luống cho hàng tiêu, mùa mưa nước thoát rất nhanh giữ cho luống (hàng tiêu) ráo nước, mùa khô tưới duy trì ẩm độ vừa đủ trong tầng rễ tích cực sâu 30 – 50 cm. Nhờ vậy thuốc BVTV anh sử dụng cũng giảm đi đáng kể. Nhận thấy rễ tơ (rễ tích cực) của cây tiêu tập trung dày đặc xung quanh ống tưới nhỏ giọt, anh Phong cũng pha loãng với nước và sử dụng quahệ thống tưới nhỏ giọt. Khi áp dụng phương pháp tưới truyền thống trước đây anh bỏ phân 6 lần/năm, khoảng 0,5 kg NPK tổng hợp/trụ tiêu/lần bón, tổng lượng phân bón 5 tấn/ha/năm. Khi chuyển qua tưới phân hoà tan bằng thiết bị châm phân tự động trong hệ thống tưới nhỏ giọt, trong mùa khô anh chia nhỏ lượng phân và tưới phân định kỳ theo nước tưới, trong mùa mưa anh kiểm tra thường xuyên ẩm độ đất và khi ẩm độ đất phù hợp để rễ cây ăn phân, anh bơm ngay một lượng phân hoà tan qua hệ thống tưới vào vùng rễ cây. Lượng phân bón hòa tan sử dụng là 1,2 tấn/ha, tiết kiệm được hơn 40% chi phí phân bón trong khi năng suất tăng hơn 40% so với lúc chưa sử dụng tưới nhỏ giọt. Anh Hà cho biết, trước kia trung bình một năm vườn tiêu của anh cho thu nhập khoảng gần 800 triệu đồng, tuy nhiên, từ ngày áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, tổng thu nhập từ vườn tiêu của anh đã tăng thêm hơn 550 triệu đồng.

Tìm hiểu về hệ thống tưới nhỏ giọt bằng dây bù áp 12mm cho 1 ha hình:

– Trạm bơm và thiết bị đầu nối: Bao gồm 7 bộ phận chính là máy bơm điện 1 pha công suất 15 m3/giờ tại cột áp 25 m, lọc đĩa 60mm (công suất lọc 18m3/h); hệ thống châm phân bón, đồng hồ đo lưu lượng nước 60mm, đồng hồ đo áp lực 0 – 6 bar, van xả khí 34mm và các phụ kiện lắp đặt hoàn chỉnh bộ điều khiển trung tâm;

– Hệ thống ống chính và ống nhánh: Đường ống chính và ống nhánh sử dụng là loại ống nhựa PVC. Đường ống chính PVC 60 mm. Đường ống nhánh PVC 42 mm. Đường ống chính và ống nhánh khi lắp đặt được chôn sâu 50 cm. Các phụ kiện đường ống và đầu nối các loại được cung cấp đầy đủ để hoàn chỉnh lắp đặt theo thiết kế.

– Hệ thống van khu vực: Sử dụng van điều áp có chức năng điều chỉnh áp lực nước, kết nối với van đóng mở bằng tay. Cụm van khu vực sẽ được lắp đặt nổi trên mặt đất 30 – 50 cm.

– Hệ thống mạng dây tưới nhỏ giọt: Sử dụng dây nhỏ giọt bù áp 12mm có độ dày 0.6mm, áp lực hoạt động từ 0,5 – 2.0 bar, lưu lượng 2 lít/h.

– Chi phí bình quân cho mỗi ha khoảng 30-40tri.

Ngoài phương pháp tưới bằng dây nhỏ giọt cuốn quanh gốc, bà con cũng có thể sử dụng đầu tưới xòe, hoặc đầu tưới nhỏ giọt 8 tia, hoặc tưới phun mưa.

Bà con tham khảo thêm các thiết bị chuyên cho tưới hồ tiêu theo đường link.

Cà phê Việt Nam gặp khó

Cà phê Việt Nam gặp khó (từ báo Nhịp cầu đầu tư): Theo tổng cục Hải Quan,ới.

Nguyên nhân (theo chứng khoán Tân Việt): Năng suất giảm do tình trạng hạn hán kéo dài, chỉ 60% diện tích cà phê có đủ nước tưới. Diện tích cà phê già cỗi chưa được trồng mới nhiều nên năng suất không cao. Ngoài ra còn tình trạng bà con trữ hàng chờ giá lên, do đó nhiều DN không có lượng để xuất.

Trong khi đó, áp lực bên ngoài cũng đang tăng cao, khi Indonesia chuẩn bị vào thời kỳ thu hoạch cà phê Robusta. Nhiều khả năng thời gian tới cà phê Việt nam sẽ vấp phải thách thức không nhỏ từ thị trường cạnh tranh này.

Mất quá nhiều thứ trong nửa đầu vụ cà phê 2014/15

(TBKTSG Online) – Giá cà phê nội địa và kỳ hạn xuống mức thấp nhất kể từ nhiều tháng qua. Những yếu tố lũng đoạn giá hoành hành mạnh trên thị trường. Nông dân đang thua lỗ đậm do mất giá, giới kinh doanh đang thiếu hàng giao dẫn đến tình trạng thanh lý hợp đồng: mất uy tín.

Biểu đồ 1: Diễn biến giá robusta sàn kỳ hạn Ice châu Âu trong tháng 3-2015 (tác giả tổng hợp)

Mất giá

Giá cà phê nhiều nơi trên các tỉnh Tây Nguyên mất 3 triệu đồng/tấn ngay khi Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột 2015 vừa chấm dứt vào ngày 12-3-2015. Đây là thời gian giao dịch chậm lại do các nhà xuất khẩu tập trung với các hoạt động lễ hội.

Đến sáng nay 14-3, hai ngày sau khi lễ hội chấm dứt, giá cà phê chỉ còn 35 triệu đồng/tấn so với cuối tuần trước là 38 triệu đồng/tấn. Đấy cũng là mức thấp nhất của niên vụ 2014/15 bắt đầu từ 1-10-2014.

Giá cà phê xuất khẩu loại 2,5% đen bể được chào bán ở mức trừ 10 đô la Mỹ/tấn giao hàng qua lan can tàu (FOB) dưới giá niêm yết sàn kỳ hạn Ice châu Âu, nhiều hơn 20-30 đô la/tấn so với cách nay mấy tuần. Tuy nhiên lượng khớp lệnh trong giao dịch không nhiều do các nhà nhập khẩu chê mắc, chỉ những ai cần giao hàng gấp với các hợp đồng nhỏ từ 40-60 tấn mới mua.

Trên sàn kỳ hạn robusta châu Âu, giá bất ngờ giảm cực mạnh, đóng cửa phiên ngày 13-3 chỉ còn 1.708 đô la/tấn, là mức thấp nhất kể từ 14 tháng nay (xin theo dõi biểu đồ 1).

Tuy nhiên, nhiều người còn hàng trong tay vẫn kiên tâm đợi chờ như một người ở thành phố Pleiku tự xưng là “Lão nông tri điền” phát biểu trên một mạng thông tin thị trường: “Giá rơi tự do rồi cũng phải dừng. Tôi còn 4 tấn, chờ đến vụ tới bán luôn thể vì sản lượng chưa chắc được…”

Biểu đồ 2: Diễn biến chỉ số đồng đô la Mỹ tăng (nguồn: tradingchart.com)

Yếu tố mất giá trong những ngày này còn được tăng cường bởi chỉ số đồng đô la Mỹ trong rổ tiền tệ tăng mạnh. Chỉ số này hôm qua đã vượt trên 100 điểm làm giá nhiều loại hàng hóa lấy đồng đô la Mỹ làm đồng tiền thanh toán một phen suy vi như kim loại vàng, dầu thô, bắp, đường ăn, đậu nành và cà phê cũng không được miễn trừ (xin xem biểu đồ 2 phía trên).

Mất mùa?

Thật vậy, chỉ trong vài ngày, giá rơi mạnh làm nhiều người lo lắng dù ước báo của quan chức thuộc Hiệp hội Cà phê-Ca cao Việt Nam (VICOFA) tại một cuộc họp trong khuôn khổ lễ hội cà phê ở Buôn Ma Thuột cho rằng sản lượng niên vụ 2014/15 chỉ đạt chừng 22,17 triệu bao (bao=60 kg), giảm 20% so với niên vụ trước.

Ước báo của VICOFA có phần hợp lý vì xuất khẩu cà phê trong mấy tháng gần đây giảm rõ rệt. Tổng cục Hải quan cho biết hai tháng đầu năm 2015, xuất khẩu cà phê nước ta giảm 25,3% chỉ đạt 241.000 tấn.

Không chỉ riêng tại nước ta, tin đồn mất mùa liên tục được dấy lên tại nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới là Brazil, kích thích thêm ý định trữ hàng chờ giá tăng. Tuần qua, một tổ chức có tên Fundacao Procafé nói rằng tuy tại Brazil có mưa nhưng đã quá trễ, không cứu kịp sản lượng vụ mùa năm sau của nước này. Tổ chức này ước báo sản lượng cà phê năm tới của Brazil chỉ ở mức 40,3-43,25 triệu bao, giảm ít nhất 2 triệu bao so với niên vụ này. Dự báo này so ra có nhỏ hơn các con số của các đơn vị khác như của Terra Forte – 47,28 triệu bao, Olam International – 49 triệu bao, Volcafe – 49,5 triệu bao, Conab – 44,1-46,6 triệu bao.

Mới đây, Tổng giám đốc Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) Roberia Silva cho rằng sản lượng năm nay mất đã đành, năm tới thế giới còn thiếu đến 8 triệu bao do hạn hán tại Brazil quê hương ông. Những phát biểu thế này lại có thể kích động phong trào trữ hàng mạnh. Tuy nhiên mình càng trữ, Brazil càng bán ra. Trong tháng 2-2015, Ủy hội Xuất khẩu Cà phê Brazil (Cecafe) báo rằng nước này xuất khẩu 2,19 triệu bao (bao=60kg) cà phê arabica, và robusta đạt 249.324 bao, so với cùng kỳ năm 2014 tăng 68%. Tuy lượng không nhiều nhưng có thể trám được thiếu hụt và giành thị phần xuất khẩu loại cà phê này của nước ta.

Mất mặt!

Ngay đầu vụ, giá cà phê nội địa được đẩy lên 41 triệu đồng/tấn khi giá trên sàn kỳ hạn được đẩy lên quanh mức 2.200 đô la/tấn. Sau hơn 5 tháng, giá kỳ hạn nay chỉ còn quanh mức 1.700 đô la/tấn và nội địa 36 triệu đồng/tấn. Giá còn đi tới đâu nữa? Chưa ai dám nói điều gì.

Theo biến động của thị trường, giá tăng đầu vụ là một “quả lừa” gây họa nhiều hơn phúc vì nhiều người cứ tưởng giá còn tăng khi vào vụ và đua nhau trữ hàng, thiếu tiền mua hàng, đua nhau gởi hàng, để rồi hàng chủ yếu đổ vào kho của vài tay đầu cơ.

Giá kỳ hạn xuống mạnh đang gây áp lực chốt giá hàng gởi trên sàn. Chốt giá “chặn lỗ” (stoploss) được thực hiện cả tự nguyện lẫn tự động khi hai bên mua bán sợ giá xuống sâu hơn mức tiền đã tạm ứng, thường vào khoảng 70% giá trị thị trường thời điểm, bên bán phải chốt bán giá rẻ bao nhiêu, bên mua hứng mua thoải mái bấy nhiêu.

Mặt khác, do siết hàng không bán hoặc bao nhiêu hàng bán ra đều vào tay các nhà đầu cơ nhỏ lẻ, không chuyên nghiệp, nhiều nhà xuất khẩu nước ta đang dở khóc dở cười đàm phán thanh lý hợp đồng chịu phạt do không có hàng giao (wash-out).

Hiện tượng này đã từng xảy ra trong niên vụ 2010/11 khi ngành cà phê bị tai tiếng do không có khả năng thực hiện hợp đồng.

Chỉ điều có khác là trước đây giá tăng mạnh, các nhà xuất khẩu bán ra nhiều nên thua lỗ đành phải thất hứa. Còn hiện nay, giá quanh mức 40-41 triệu đồng/tấn trong thời gian dài, nhưng hàng không đủ để xuất khẩu qua đường chính thức dù giá ấy có thể chấp nhận được.

Cách đây mấy năm, có người đã từng lên tiếng phản ứng với chủ trương tạm trữ và cho rằng tạm trữ là “tự trảm”. Những gì đang xảy ra trên thị trường cà phê nước ta hiện nay quả không sai.

Nông dân tỉnh Lâm Đồng dốc sức chống khô hạn cho cây càphê

Mùa khô hạn năm 2015 đang vào cao điểm. Đây cũng là lúc người dân tại nhiều vùng trồng càphê trọng điểm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng dốc sức chống hạn cho loại cây trồng chủ lực này.

Tận dụng mọi nguồn nước chống hạn

Vừa kết thúc kỳ nghỉ dài đầu năm, nhiều hộ dân trên địa bàn huyện Di Linh – vùng trồng càphê lớn nhất Lâm Đồng, bắt đầu ra quân chống hạn, tưới nước đợt hai cho cây càphê. Tại một số địa bàn chịu khô hạn nặng, nguy cơ thiếu hụt nguồn nước cao như xã Gia Bắc, Sơn Điền, Tam Bố, Tân Nghĩa… các hộ dân tranh thủ ngày đêm để bơm nước tưới cây.

Cạnh vườn càphê 7 sào (7.000m2) của gia đình tại thôn Đồng Đò (xã Tân Nghĩa), ông K’Sim dựng một lều tạm để trực chiến bơm nước tưới cây. Dù diện tích vườn càphê của ông không bằng các vườn khác nhưng để hoàn tất một đợt tưới cũng mất đến hai, ba ngày.

“Tôi dẫn đường ống xuống tận ruộng nhưng nước vẫn không đủ, cứ tưới được hai tiếng đồng hồ lại phải ngừng năm tiếng chờ đợi mới có nước tưới tiếp” – ông K’Sim giải thích.

Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Di Linh, toàn huyện có gần 42.000ha càphê nhưng chỉ có 48 công trình thủy lợi bao gồm các hồ chứa và đập dâng. Hệ thống thủy lợi này có khả năng đảm bảo nước tưới cho gần 7.000ha cây trồng các loại.

Trước thực tế trên, những năm qua người dân Di Linh đã chủ động đào 4.000 ao hồ tích nước, hơn 900 giếng khoan để tận dụng nguồn nước ngầm cung cấp cho cây càphê và một số loại cây trồng khác.

Trong thời điểm tưới nước đợt một cho cây càphê (dịp trước Tết Nguyên đán Ất Mùi), toàn huyện đã tưới được khoảng 86%, số còn lại không có nước tưới do nằm xa nguồn nước, địa hình núi cao. Dự kiến, trong đợt tưới thứ hai này nguồn nước chỉ đáp ứng được khoảng 66% diện tích càphê toàn huyện.

Ông Trần Nhật Thi, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Di Linh, cho biết, để đối phó trước tình hình khô hạn có thể kéo dài trong thời gian tới, huyện đã chuẩn bị các phương án cụ thể hỗ trợ nông dân như điều tiết lại lịch xả nước của hồ, đập, vận động nhân dân nối nhiều máy bơm để tưới chống hạn cho càphê ở vùng diện tích xa nguồn nước.

Đồng thời, huyện cũng phối hợp với ngành điện nâng cấp mạng lưới điện tại một số vùng có nhiều giếng khoan nhằm đảm bảo đủ điện cung cấp cho người dân bơm nước chống hạn.

Cũng tương tự, đến thời điểm này tình hình khô hạn trên địa bàn huyện Bảo Lâm bắt đầu có diễn biến gay gắt. Theo khảo sát của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Bảo Lâm cho thấy, trên địa bàn hiện có khoảng 70-80 vị trí bị thiếu nước cục bộ. Đến nay, mực nước tại các ao hồ, công trình thủy lợi trong huyện cũng đang dần hạ thấp.

Theo thống kê, toàn huyện Bảo Lâm có 21 công trình thủy lợi các loại với công suất thiết kế đảm bảo tưới tiêu cho khoảng 30-35% diện tích đất nông nghiệp của huyện, số còn lại người dân phải tận dụng nguồn nước ao, hồ và sông suối.

Theo ông Đậu Văn Xuân, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Bảo Lâm, toàn huyện có 45.000ha đất nông nghiệp, chủ yếu trồng càphê và cây chè.

Mùa khô năm trước có khoảng 75% diện tích chủ động được nước tưới, diện tích còn lại chịu cảnh khô hạn khiến cây càphê giảm sản lượng gần một nửa, cây chè bị thất thu nhiều tháng liền.

Khô hạn sẽ còn gay gắt hơn

Toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 152.000ha càphê các loại. Trong đó, diện tích tập trung chủ yếu tại các huyện Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lâm, Đức Trọng, Đam Rông và thành phố Bảo Lộc. Đa phần các địa phương trên nằm trong danh sách dự báo có khả năng xảy ra hạn hán cao trong thời gian tới.

Đặc biệt, như địa bàn các xã Đan Phượng, Phi Tô (Lâm Hà); xã Ninh Loan, Đà Loan, Đa Quyn… (Đức Trọng) sẽ chịu khô hạn gay gắt bởi nhiều hồ chứa ở các vùng này hiện nay đã cạn kiện.

Theo ghi nhận của Chi cục Thủy lợi tỉnh Lâm Đồng mới đây, mực nước trung bình của các hồ chứa trên địa bàn hiện nay đang thấp hơn cùng kỳ các năm khoảng 25cm.

Tại các địa phương, nhiều hồ chứa vừa và nhỏ mực nước đều xuống thấp, một số hồ đã xuống dưới mực nước chết hoặc khô hạn. Đặc biệt, mực nước của các hồ thủy lợi lớn như hồ Ka La (huyện Di Linh), Đắk Lông Thượng (Bảo Lâm), hồ Đạ Tẻh (Đạ Tẻh), Tuyền Lâm (Thành phố Đà Lạt)… đang ở dưới mực nước dâng bình thường vài mét.

Trong khi đó, trên sông Đồng Nai, đoạn chảy qua tỉnh Lâm Đồng, mực nước đã xuống dưới mức thấp nhất, không đủ cột nước bơm khiến ba trạm bơm lớn trên đoạn sông này (gồm trạm Đức Phổ, Phù Mỹ, Phước Cát 1) phải tạm dừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng.

Nguyên nhân của tình trạng này là do các nhà máy thủy điện trên hệ thống sông Đồng Nai tạm ngưng xả nước về hạ lưu.

Ông Phan Công Ngôn, Chi cục Trưởng Chi cục Thủy lợi Lâm Đồng cho biết, trong khi tình hình khô hạn diễn biến bất thường, một số hồ chứa, đập dâng bị hư hỏng, bồi lấp nhưng địa phương vẫn không có kinh phí để duy tu, sửa chữa do nguồn vốn phục vụ công tác chống hạn năm 2015 (hơn 57 tỷ đồng) đề xuất trung ương hỗ trợ đến nay vẫn chưa được bố trí./.

Cây mắc ca

Giá trị thực của cây mắc ca (tổng hợp)

Chung quanh chủ trương phát triển cây mắc-ca (maccadamia) ở Tây Nguyên hiện đang có nhiều ý kiến đa chiều. TBKTSG Online đã có nhiều bài viết, phỏng vấn về đề tài này. Trong mạch thông tin đó, bài viết dưới đây của GS Đinh Xuân Bá* sẽ đưa ra một cách nhìn khác, tập trung vào dữ liệu nghiên cứu chuyên nghiệp, hy vọng sẽ có ích cho việc thực hiện chủ trương trên.

Cây mắc ca

Ngày 7-2-2015 tại Đà Lạt đã có hội thảo “Chiến lược phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên”. Tại đó và ở một số bài viết liên quan, các tác giả đã đưa ra nhiều dữ liệu “hoang tưởng” về cây mắc ca. Ngày 22-2-2015, trên TBKTSG Online, Ngọc Hùng và Hoàng Sơn đã phê phán các số liệu phóng đại do những đơn vị cổ vũ cho chương trình này đưa ra và cho rằng “việc quảng bá quá mức về hiệu quả của cây mắc-ca, trước mắt chắc chắn sẽ tạo lợi nhuận “khủng” cho những người bán cây giống, có thể kéo theo nhiều hệ lụy khó lường …” (xem Cây mắc-ca và nhiều bài toán phải giải).

Người viết bài này hoàn toàn tâm đắc với phản biện nghiêm túc của hai tác giả trên và cho rằng sự phóng đại đó có lẽ còn có lợi cho những người “ăn theo” dự án và sẽ làm khổ những người dám thực hiện dự án mà thiếu các nghiên cứu chuyên nghiệp về loại cây này.

Trước hết hãy xem vài ví dụ về các dữ liệu hoang tưởng đã được đưa ra:

– Bài Đưa cây mắc-ca lọt vào danh sách “cây trồng tỉ đô của Thùy Dung (9-7-2014) viết: theo ý kiến của ông Nguyễn Công Tạn “….xét về giá trị kinh tế, một cây mắc ca có thể cho tới 70 kg hạt với giá hiện khoảng 15 đô la Mỹ /kg…”

– Bài Phát triển cây mắc ca tại Việt Nam: Nhiều kỳ vọng của Anh Khoa – Nhà báo và Công luận(22-01-2015) viết: “…..với thực tế hiện nay, một cây macadamia có thể cho tới 70 kg hạt và với giá hiện khoảng 15 USD/kg thì Việt Nam chỉ cần 10 năm để phát triển 100.000 ha và có thể đạt được kim ngạch 1 tỉ USD”

– Bài Lâm Đồng: Mắc ca sai quả mùa đầu của báo Lâm Đồng đăng lại trên TBKTSG Online ngày 3-7-2011 viết: “ông Lê Đức Ba có vườn mắc ca gần 5 năm tuổi, gồm 300 cây, trung bình mỗi cây cho 7 kg hạt khô, vị chi ông Ba có 2,1 tấn hạt, tính thành tiền mỗi tấn 200 triệu đồng…(nếu quy ra giá đô la Mỹ thời đó thì giá hạt khô là khoảng 10 USD/kg)”.

– Bài NHNN sẽ hỗ trợ phát triển cây mắc ca ở Tây Nguyên của Thanh Thương ngày 7-2-2015 viết: “Giá trị kinh tế của mắc ca là 5,5 đô la Mỹ/kg trái tươi còn cà phê chỉ từ 2,5 – 3 đô la Mỹ”.

Tuy nhiên, khi so sánh các thông tin trên với số liệu của các tổ chức quốc tế có uy tín thì có thể nhận ra rằng, không có cơ sở để lạc quan như vậy.

Để có các dữ liệu khách quan và chính thống thì phải nghiên cứu và khai thác một cách chuyên nghiệp các tư liệu của Cơ quan thống kê của Liên hiệp quốc (United Nations Statistics Division, UNSD, UN COMTRADE, http://unstats.un.org/unsd/comtrade/) và Trung tâm thương mại quốc tế (International Trade Centre, ITC, www.intracen.org/marketanalysis) trực thuộc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Tất cả các nước đều có nghĩa vụ thông báo các dữ liệu thương mại đã qui định (ví dụ xuất nhập khẩu) cho UNSD, nếu thiếu dữ liệu thương mại của nước nào thì UNSD sẽ dùng các số liệu “phản chiếu” (mirror data) để bù vào. Ngược lại, để nghiêu cứu các chiến lược thương mại, người ta thường khai thác kho dữ liệu khổng lồ, khách quan, chuyên nghiệp và rất chi tiết này. Khi dẫn chứng dữ liệu lấy từ các nguồn chính thống nói trên thì người đọc dễ dàng kiểm chứng được bằng cách truy cập vào các cơ sở dữ liệu (database) của UNSD, UN COMTRADE và ITC.

Tại các cơ sở dữ liệu này không có khái niệm “chung chung” về hạt mắc ca như trong các ví dụ trên mà có các qui định thống nhất về thuật ngữ mà các nước phải dùng khi giao thương về hạt mắc ca. Cụ thể là theo UNSD và ITC thì có 3 loại hạt mắc ca sau (xem http://www.tradetracing.com/hs-se/macadamia-nut.html http://comtrade.un.org/db/dqBasicQuery.aspx):

– Hạt mắc ca nguyên vỏ (in-shell macadamia nut) có mã số HS2012 là 080261
– Hạt mắc ca đã bóc vỏ (shelled macadamia nut) có mã số HS2012 là 080262
– Hạt mắc ca nói chung (tươi hoặc khô, nguyên vỏ hoặc đã bóc vỏ) có mã số HS2007 là 080260.
Các hạt mắc ca 080261 và 080262 đều là hạt khô có độ ẩm khoảng 10%.

Không nên dùng các khái niệm mơ hồ (ví dụ: hạt khô, trái tươi, hạt thành phẩm,…) để làm dữ liệu nhằm thuyết phục cho một dự án hoặc thâm chí một chiến lược. Dùng các mã số đã được qui định thống nhất đó ta sẽ có tiếng nói chung với thế giới về hạt mắc ca, ta có thể truy cập vào các nguồn dữ liệu của UNSD và ITC để khai thác thông tin và tìm câu trả lời cho những vấn đề ta cần tìm hiểu. Sau đây là vài ví dụ:

Để trả lời cho câu hỏi là các nước nào xuất khẩu hạt mắc ca 080260 nhiều nhất, từ các nguồn dữ liệu nói trên ta có bảng 1:

Bảng 1:

Nước xuất khẩu Số lượng xuất khẩu (tấn)
2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Tổng
Úc 17.173 15.951 13.417 14.854 4.793 9.277 15.639 91.104
Nam Phi 10.231 9.276 9.756 9.399 13.264 11.316 21.696 84.938
Hà Lan 1.198 1.845 1.852 2.951 4.033 1.195 1.586 14.660
Guatemala 1.502 1.264 1.488 1.713 1.990 1.803 2.583 12.343
Zimbabwe 0 80 233 1.953 2.109 2.297 1.443 8.115
Malawi 0 170 312 676 1.073 1.041 1.425 4.697

 

Như vậy Mỹ không thuộc vào các nước xuất khẩu nhiều hạt mắc ca 080260 như một vài bài đã viết. Năm 2013 Mỹ xuất 1.715 tấn hạt mắc ca 080260 nhưng lại nhập 7.534 tấn hạt đó, chiếm 23,25% tổng số lượng nhập khẩu toàn cầu và là nước nhập khẩu nhiều nhất hạt mắc ca 080260 (xem http://www.trademap.org/Index.aspx).

Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Macadamia, năm 2013 Úc thu hoạch 35.200 tấn hạt 080260 và(theo bảng1) xuất 15.639 tấn, vậy tỷ lệ xuất khẩu chiếm 44,43%. Năm 2013 Nam Phi thu hoạch 37.000 tấn hạt 080260 và (theo bảng 1) xuất khẩu 21.696 tấn, vậy tỷ lệ xuất khẩu chiếm 58,64%. Như vậy, số lượng xuất khẩu cũng phản ánh năng lực sản xuất của các nước đó. Ngoài ra, năm 2013 Úc không còn là nước có sản lượng hạt mắc ca 080260 lớn nhất.

Để trả lời cho câu hỏi giá xuất khẩu hạt mắc ca nguyên vỏ 080261 là bao nhiêu, từ các nguồn dữ liệu nói trên ta có bảng 2:

Bảng 2:

Nước xuất khẩu 2012 2013 Đơn giá trung bình(USD/kg)
Trị giá (USD) Số lượng(kg) Đơn giá(USD/kg) Trị giá (USD) Số lượng(kg) Đơn giá(USD/kg)
Nam Phi $38.077.628 7.371.124 5,17 $63.714.678 15.356.711 4,15 4,48
Úc $27.556.048 5.392.635 5,11 $39.110.560 10.169.057 3.85 4.28
Guatemala $1.509.518 645.895 2,34 $1.667.141 1.129.908 1,48 1,79
Hà Lan $4.496.178 302.075 14,88 $741.529 78.410 9,46 13,77
Zimbabwe $1.707.499 1.344.425 1,27 1,27

 

Từ bảng 2 ta rút ra các nhận xét sau:

– Dựa vào số liệu xuất khẩu của 5 nước nói trên trong hai năm 2012 và 2013 thì đơn giá trung bình của hạt mắc ca nguyên vỏ trong 2 năm 2012 và 2013 là USD4,27/kg . Nếu không xét giá xuất khẩu của Hà Lan (vì giá cao đột xuất) thì đơn giá trung bình của hạt mắc ca nguyên vỏ 2 năm 2012 và 2013 là USD4,19/kg

– Đối với hạt mắc ca nguyên vỏ, tốc độ giảm đơn giá sau một năm của Nam Phi là 19,73%, của Úc là 24,66%, của Guatemala là 36,75%, của Hà Lan là 36,42%. Từ đó có thể tính được tốc độ trung bình giảm đơn giá (sau một năm) của 4 nước đầu tiên là 24,52%. Nói cách khác, sau khi xét cả tốc độ giảm giá thì đơn giá trung bình của hạt mắc ca nguyên vỏ là USD3,16/kg.

– Cần phân biệt giá xuất khẩu với giá thị trường nội địa và giá cửa-nông-trại (farm gate price), giá xuất khẩu cao hơn giá thị trường nội địa và càng cao hơn giá cửa-nông-trại. Giá cửa-nông-trại là giá hạt tươi, sau đó phải qua nhà máy hay xưởng để làm sạch, sấy khô, sàng lọc, phân loại, bao bì đóng gói, chi phi tiếp thị,…rồi mới thành giá xuất khẩu hay giá nội địa.

Theo www.australian-macadamía.org/industry, năm 2012 giá thị trường nội địa Úc của hạt mắc ca nguyên vỏ là AUD3,20/kg (hay USD2,60/kg). Cũng trong năm đó giá cửa-nông-trại ở vùng Bundaberg là AUD3,20/kg. Theo https://www.daff.qld.gov.au/plants/ thì giá của hạt mắc ca nguyên vỏ dao động từng năm nhưng có giá thấp nhất là AUD1,5/kg (năm 2007) và cao nhất là AUD3,60/kg (năm 2005).

Vậy các giá hạt mắc ca nói đến trong 3 ví dụ trên (USD15/kg, USD10/kg, USD5,5/kg) cao gấp nhiều lần so với giá USD2,60/kg, thậm chí còn cao hơn cả giá xuất khẩu hạt mắc ca nguyên vỏ (giá này lại đang giảm hàng năm), đấy chính là các số liệu hoang tưởng.

Để trả lời cho câu hỏi giá xuất khẩu hạt mắc ca đã bóc vỏ 080262 là bao nhiêu, từ các nguồn dữ liệu nói trên ta có bảng 3:

Bảng 3:

Nước xuất khẩu 2012 2013 Đơn giá trung bình(USD/kg)
Trị giá (USD) Số lượng(kg) Đơn giá(USD/kg) Trị giá (USD) Số lượng(kg) Đơn giá(USD/kg)
Nam Phi $56.592.241 3.944.791 14,35 $82.184.822 6.338.879 12,97 13,49
Úc $59.058.639 3.884.025 15,21 $74.564.560 5.470.064 13,63 14,29
Guatemala $15.675.020 1.157.338 13,54 $18.570.247 1.453.129 12,78 13,12
Hà Lan $14.314.512 892.590 16,04 $24.767.928 1.508.071 16,42 16,28
Zimbabwe $222.750 99.000 2,25 2,25

 

Từ bảng 3 ta rút ra các nhận xét sau:

– Dựa vào số liệu xuất khẩu của 5 nước nói trên trong hai năm 2012 và 2013, đơn giá trung bình của hạt mắc ca đã bóc vỏ trong hai năm 2012 và 2013 là USD13,98/kg. Nếu không xét giá xuất khẩu của Zimbabwe (vì giá thấp đột xuất) thì đơn giá trung bình của hạt mắc ca đã bóc vỏ trong 2 năm 2012 và 2013 là USD14,03/kg.

– Đối với hạt mắc ca đã bóc vỏ, tốc độ giảm đơn giá sau một năm của Nam Phi là 9,62%, của Úc là 10,39%, của Guatemala là 5,61%, của Hà Lan là 2,37%. Từ đó có thể tính được tốc độ trung bình giảm đơn giá (sau một năm) của 4 nước đầu tiên là 8,07%, tức là đơn giá trung bình của hạt mắc ca đã bóc vỏ chỉ còn USD12,90/kg.

– Cần phân biệt rõ giá xuất khẩu của hạt mắc ca đã bóc vỏ với giá hạt mắc ca nguyên vỏ và với giá cửa-nông-trại. Tỷ lệ nhận được hạt mắc ca đã bóc vỏ từ hạt mắc ca nguyên vỏ là 30% (theowww.australian-macadamias.org/industry/ thì 32.400 tấn hạt nguyên vỏ cho 9.500 tấn hạt đã bóc vỏ), chưa kể phải bỏ nhiều chi phí lớn cho xây dựng nhà máy, các chi phí công nghiệp khác (sấy, chọn lọc, phân loại, khử trùng, bao bì đóng gói,…) và chi phí tiếp thị.

Bây giờ thử tính xem nếu Việt Nam trồng 100.000 hecta mắc ca thì sau 10 năm ta có thu nhập trung bình trong 1 năm là bao nhiêu đô la Mỹ? (giá bán hạt là giá cửa-nông-trại, ví dụ USD2,6/kg, không thể tính theo giá xuất khẩu được vì chưa biết các chi phí công nghiệp và chi phí tiếp thị…). Để trả lời câu hỏi này, cần phải trả lời một vài câu hỏi liên quan:

Một hecta trồng được bao nhiêu cây mắc ca? Theo https://www.daff.qld.gov.au thì một hecta trồng được 312 cây (mật độ trồng 8x4m), theo www.macnut.co.nz thì môt hecta trồng được 416 cây (mật độ trồng 6x4m), còn theo www.nhandan.com.vn thì tại Tây Nguyên VN một hecta trồng thí điểm có hơn 200 cây. Vậy ta tạm lấy con số trung bình là một hecta có 300 cây mắc ca.

Một cây thu hoạch được bao nhiêu kg hạt? Theo https://www.daff.qld.gov.au/plants/ ta có số liệu của 2 dòng đầu tiên của bảng 4 (trong 4 năm đầu ta chưa thu hoạch được hạt nào, đến năm thứ 5 thì thu hạt được 1 kg/cây, năm thứ 10 thu được 10kg/cây. Vậy tính cả 10 năm thì thu được trung bình mỗi năm là 3,2kg/cây, không phải là 70kg/cây như ông Tạn và nhà báo Anh Khoa nói).

Từ những số liệu trên ta lập được Bảng 4:

Bảng 4:

Năm thứ 5 6 7 8 9 10
Sản lượng hạt (kg/cây) 1 2 4 6 9 10
Sản lượng hạt (kg/ha) 300 600 1200 1800 2700 3000
Thu nhập trên 1 hecta (USD/ha) 780 1560 3120 4680 7020 7800
Thu nhập trên 100.000 hecta (triệu USD) 78 156 312 468 702 780

 

Từ bảng 4 ta tính được tổng thu nhập trong 10 năm (khi trồng 100.000 hecta cây mắc ca) là 2.496 triệu USD, tức là thu nhập trung bình mỗi năm là 250 triệu USD (1/4 tỉ đô la).

Tóm lại, người viết bài này ủng hộ chủ trương chiến lược phát triển cây mắc ca tại Tây Nguyên nhưng khi làm các dự án, nhất là khi điều hành các dự án và chương trình cụ thể cần phải tác nghiệp thận trọng và chuyên nghiệp, lấy lợi ích của người lao động ở nông thôn và lợi ích kinh tế xã hội của đất nước làm trọng, hạn chế tối đa các hiện tượng tiêu cực “đục nước béo cò” (nghe nói có nơi nông dân đã phải mua cây giống mắc ca với giá “khủng” là 100.000 VNĐ/cây).

* Giáo sư Đinh Xuân Bá: Giám đốc Trung tâm Sinh học ứng dụng SECOIN

Theo Thesaigontimes.vn