+++Coperate contact info+++

Monthly Archives: Tháng Mười Hai 2015

Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? Cần những chiến lược tổng thể - Phần cuối

Phần 1: Tây Nguyên khô khát

Phần 2: Tây Nguyên trả giá

Tây Nguyên đang đứng trước thách thức sa mạc hóa do thiếu nước trầm trọng, đặt ra cho ngành chức năng nhiệm vụ cấp bách về việc đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng.

Như đã phản ánh trong các bài viết trước, Tây Nguyên màu mỡ đang đứng trước thách thức sa mạc hóa bởi áp lực thiếu nước trầm trọng. Thực tế đó đặt ra cho chính quyền và ngành chức năng nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài về việc đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng. Đó là phải thay đổi mô hình đầu tư, sắp xếp lại sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để quản lý, khai thác nguồn nước hiệu quả, bền vững.

Những năm gần đây ở Tây Nguyên xuất hiện nhiều mô hình tưới tiết kiệm trên nhiều loại cây trồng khác nhau mang lại hiệu quả rõ nét. Điển hình ở Lâm Đồng, những vùng trồng rau, hoa trọng điểm như Đà Lạt, Đơn Dương, Lạc Dương, Đức Trọng… đã áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa khá phổ biến.

Ông Vũ Đình Phúc ở phường 7, thành phố Đà Lạt cho biết hiệu quả thực tế của việc áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt trên 1 hecta hoa: “Thay vì mình tưới một tháng 30 công, nay mình tưới nhỏ giọt tiết kiệm còn lại 3 công, tiết kiệm được phân bón một phần, rồi tiết kiệm được công nên kinh tế gia đình ổn định hơn”.

radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 3: Cần những chiến lược tổng thể
Tưới cà phê theo phương pháp truyền thống của nông dân huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk (Ảnh: tintaynguyen.com)

Cùng với rau, hoa và cà phê, ở Lâm Đồng hiện có khoảng 15% trong tổng số gần 40.000 hecta chè được áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm nước. Ông Phan Văn Luyến, Cán bộ kỹ thuật Công ty TNHH Junhong Việt Nam cho biết, đơn vị đã đầu tư hệ thống tưới nước tiết kiệm cho 40 hecta chè ở huyện Lâm Hà rất có hiệu quả: “Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống nhỏ giọt này là thứ nhất là mình kiểm soát và giảm được lượng phân bón, vì sử dụng hệ thống nhỏ giọt thì cây chè ăn trực tiếp được lượng phân bón đó. Thứ hai là nhân công giảm đi rất nhiều. Ba là năng suất thì tương đương hoặc hơn mức chăm sóc bình thường”.

Tại Đắk Lắk 5 năm qua, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã liên kết với nông dân để áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho 2.000 hecta cây cà phê, nhằm nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu. Gia đình ông Y Na Ayun cùng 6 hộ dân tộc Ê Đê khác ở xã Ea Tul, huyện Chư M’gar được hỗ trợ triển khai mô hình này. Chi phí lắp đặt hệ thống tưới cho mỗi hecta cà phê là 50 triệu đồng; Công ty hỗ trợ một nửa, chương trình nông thôn mới hỗ trợ 40%, còn lại gia đình bỏ ra 10%. Ông Y Na Ayun cho biết: “Năm trước cho có hệ thống nhỏ giọt thì sản lượng cà phê được 1,7 tấn. Năm ngoái là đầu tiên sử dụng hệ thống nhỏ giọt thì được 2,1 tấn, năm nay sẽ tăng thêm nữa”.

Công ty Cổ phần Công nghệ tưới Khang Thịnh ở thành phố Hồ Chí Minh chuyên cung ứng và chuyển giao công nghệ tưới nhỏ giọt. Những năm qua, công ty đã liên kết với nông dân Tây Nguyên để ứng dụng công nghệ này trên nhiều loại cây trồng như cà phê, hồ tiêu, ngô, mía, rau, hoa và cỏ voi, đều mang lại hiệu quả.

Ông Vũ Kiên Trung, Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ tưới Khang Thịnh nói: “Các tỉnh Tây Nguyên thì Lâm Đồng là tỉnh đi đầu. Họ có lợi thế là có nhiều đơn vị đầu tư nước ngoài đầu vào nên bà con nông dân sản xuất nông nghiệp ở Đà Lạt họ học rất nhanh,ứng dụng rất nhanh. Thứ hai là ở Đắk Lắk, cây trồng trọng điểm là cây cà phê thì chúng tôi ứng dụng nhỏ giọt để mang lại hiệu quả tốt nhất cho cây cà phê. Gia Lai thì ứng dụng nhỏ giọt cho cây hồ tiêu được khoảng 600 hecta, và Đắk Lắk hiện nay cũng đã ứng dụng tưới nhỏ giọt cho hồ tiêu”.

Nguồn nước ngày càng khan hiếm, diện tích gieo trồng lại không ngừng gia tăng, áp lực nước tưới cho cây trồng đang đè nặng lên vai nông dân Tây Nguyên, đồng thời là trách nhiệm nặng nề của chính quyền và ngành chức năng.

Theo Tiến sĩ Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, bên cạnh việc tổ chức lại sản xuất quy mô lớn, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học một cách đồng bộ, ở khu vực Tây Nguyên cần có sự chuyển dịch lớn trong đầu tư thủy lợi dựa trên lợi thế so sánh các loại cây trồng.

Tiến sĩ Lê Ngọc Báu nhận định: “Nhà nước cũng phải có sự chuyển dịch trong đầu tư phát triển thủy lợi, giảm bớt sự mất cân bằng nước. Với lượng mưa hàng năm từ 1.800 đến 2.000 ly, nếu chúng ta có những công trình thủy lợi để giữ lại từ 10 – 15% thì có thể đáp ứng được nước tưới trong mùa khô. Nếu đầu tư thủy lợi cho Tây Nguyên phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao thì hiệu quả cao hơn rất nhiều so với đầu tư thủy lợi cho lúa nước”.

Theo quy hoạch tổng thể từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, các tỉnh Tây Nguyên cần đầu tư xây dựng mới và nâng cấp 2.370 công trình thủy lợi, với tổng số vốn trên 58.000 tỷ đồng. Trong khi ngân sách khó khăn, cần có một cơ chế đầu tư linh hoạt hơn.

PGS.TS Đoàn Doãn Tuấn, Viện trưởng Viện nước Tưới tiêu Môi trường, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam nêu ý kiến: “Nếu sự huy động đóng góp nguồn lực càng có hiệu quả thì chúng ta càng có điều kiện để hoàn thành các cơ sở hạ tầng thủy lợi và dịch vụ quản lý. Tăng cường dịch vụ quản lý thì đưa đến thu nhập cho người nông dân cao hơn và đưa lại sự huy động dễ dàng hơn. Về xã hội hóa đầu tư, chúng ta có thể huy động nông dân bằng cách tổ chức sản xuất theo chuỗi, bao gồm nhà nước, doanh nghiệp và nông dân. Nhà nước đối với các dự án cấp nước tiết kiệm thì có thể đầu tư đường ống chính, đường ống cấp 1, doanh nghiệp đầu tư đường ống cấp 2 cấp 3 và nông dân có thể đầu tư vào ruộng các dây tưới”.

Thực tiễn ở Tây Nguyên đã có địa phương thực hiện tốt việc xã hội hóa trong việc xây dựng các công trình thủy lợi. Điển hình là tỉnh Lâm Đồng những năm qua đã huy động toàn dân đóng góp để xây dựng hàng trăm hồ chứa nhỏ. Từ nay đến năm 2020, Lâm Đồng dự kiến sẽ đào mới khoảng 5.500 ao, hồ nhỏ với tổng kinh phí 125 tỷ đồng, trong đó người dân đóng góp một nửa.

Cách làm này của Lâm Đồng được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Thắng nhìn nhận như là điển hình về đầu tư phát triển thủy lợi ở Tây Nguyên: “Bên Lâm Đồng làm rất thành công, tỉnh ra những chính sách rất hay, hỗ trợ 70% ca máy để dân và cộng đồng làm những cái hồ này, đây là một kinh nghiệm rất quý. Tôi nghĩ sáng kiến của Lâm Đồng là rất tốt, tức là đưa toàn dân làm thủy lợi. Ở đây tôi muốn nói 3 vấn đề để thúc đấy việc tưới. Thứ nhất là tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô lớn. Trong mô hình chính sách, chúng tôi sẽ hỗ trợ liên kết sản xuất mạnh hơn hỗ trợ cá thể. Thứ hai là khẩn trương điều chỉnh lại đầu tư, đặc biệt là đầu tư công; khuyến khích công – tư. Thứ ba là phải áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học công nghệ; định hướng lại sản xuất, nếu cây gì đó manh mún, không phù hợp thì chuyển sang cây có lợi thế. Tức là khi muốn làm tiết kiệm nước thì phải đồng bộ với chính sách khác mới có hiệu quả lớn”.

Đúng là trời hạn mong mưa phùn. Những giải pháp đã nêu xuất phát từ thực tiễn và đã được kiểm nghiệm, nhưng để nhân rộng ra thì không đơn giản. Bởi địa chất, khí hậu, các loại cây trồng và cả tập quán canh tác mỗi nơi một khác.

Vậy nên, cùng với việc dựa vào sức dân, trí dân, Tây Nguyên cần những giải pháp tổng thể đồng bộ với nguồn lực đầu tư lớn và tập trung, huy động được các nhà khoa học, doanh nghiệp vào cuộc, mới mong đến ngày không còn nhấp nhổm lo tính trả giá cho tình trạng khô khát do chính mình gây ra.

Nhóm PV thường trú VOV tại Tây Nguyên (Hết)

Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? Tây Nguyên đang trả giá - Phần 2

Phần 1: Tây Nguyên khô khát

Tây Nguyên đang phải trả giá quá đắt khi xây dựng các nhà máy thủy điện thiếu quy hoạch cùng với nạn phá rừng tàn khốc khiến nguồn nước bị suy giảm trầm trọng.

Như chúng tôi đã đề cập trong bài viết trước, tình trạng khô hạn ở Tây Nguyên – vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước đã gây ra nhiều thiệt hại, không thể tính hết bằng tiền. Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi phân tích về nguyên nhân của thực trạng này. Đó là việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện không tính hết tác động môi trường.

Các công trình thủy lợi thì không phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của vùng, công tác quản lý khai thác còn nhiều bất cập. Rồi tình trạng phá rừng, khai thác nước ngầm vô tội vạ, khiến trữ lượng nước ngày càng suy giảm.

radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
Do thủy điện An Khê – Kanak chuyển nước về sông Kôn (Bình Định), sông Ba ở Gia Lai thành “sông chết” (Ảnh: PV VOV)

Sự can thiệp thô bạo của con người đã tác động trực tiếp đến nguồn nước ở Tây Nguyên trong những năm qua, trước hết là việc xây dựng hàng loạt nhà máy thủy điện trên hầu hết các dòng sông lớn. Điển hình là dự án thủy điện An Khê – Ka Nak ở tỉnh Gia Lai đã chặn ngang dòng chảy sông Ba từ thượng nguồn, rồi chuyển nước về sông Kôn, tỉnh Bình Định; sông Ba trở thành con “sông chết”.

Mỗi năm, hơn 300 tỷ mét khối nước sông Ba đã bị chuyển về Bình Định, khiến hàng chục nghìn hecta đất sản xuất ở 6 huyện, thị xã của tỉnh Gia Lai bị khô hạn. Khoảng 400.000 dân sinh sống dọc lưu vực sông Ba phải gánh chịu sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt.

Suốt cả nhiệm kỳ làm Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai, ông Phạm Đình Thu luôn luôn bị áp lực bởi công trình thủy điện này: “Thủy điện An Khê – Kanak là vấn đề lâu dài, căng thẳng lắm, không biết đến lúc nào kết thúc được. Cuộc tiếp cử tri nào cũng nói hết sức gay gắt. Bây giờ nó ảnh hưởng đến lưu vực là gần 400.000 dân ở hạ lưu chứ không phải chỉ có An Khê không. Việc dịch chuyển nguồn nước là tác hại cực kỳ to lớn”.

Tương tự như vậy, hệ thống sông Serepok (hợp lưu của sông Krông Nô và Krông Ana) chảy qua 2 tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk cũng bị “chặt” ra nhiều khúc để xây dựng thủy điện, ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước thủy lợi. Từ khi nhà máy thủy điện Buôn Tuar Srah chặn dòng Krông Nô, nguồn nước sản xuất của 8 xã, thuộc tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông bị ảnh hưởng.

Dưới hạ nguồn, nhà máy thủy điện Serepok 4A chặn dòng tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, chuyển nước sang khu vực khác để phát điện, khiến hàng chục km sông Serepok trơ đáy. Việc làm này đã gây hạn hán ở vùng hạ du, ảnh hưởng hệ sinh thái Vườn quốc gia Yook Đôn, đồng thời biến khu du lịch sinh thái Buôn Đôn vốn rất hấp dẫn, thành một địa chỉ heo hút.

radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
Thủy điện Serepok 4A chặn dòng khiến khu du lịch sinh thái Bản Đôn khô khốc (Ảnh: PV VOV)

Tại Kon Tum, thủy điện Thượng Kon Tum đang được xây dựng, chuyển nước từ sông Đăk Snghé, tỉnh Kon Tum sang sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi, chắc chắn sẽ gây thảm cảnh tồi tệ không kém so với những gì đang diễn ra ở hạ lưu thuỷ điện An Khê – Kanak, tỉnh Gia Lai, khu du lịch Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk hay như ở thác Pongour – Lâm Đồng, thác nước thơ mộng và hùng vĩ bậc nhất Tây Nguyên.

Bà Trương Thị Đáng quản lý Khu du lịch sinh thái Thác Pongour nói: “Khi xây dựng đập thủy điện Đại Ninh thì hầu như nguồn nước dòng sông Đa Nhim về hạ nguồn của thác Pongour là không còn, không đủ nước để mà cung cấp cho cây trồng và nước về với thác, cạn kiệt luôn. Mặc dù thủy điện Đại Ninh cam kết xả về dòng sông Đa Nhim này một phút là bao nhiêu khối nước đó nhưng mà thực tế thì họ không thực hiện theo yêu cầu đó”.

Đúng là Tây Nguyên đang phải trả giá quá đắt và chưa biết khi nào thôi trả giá. Cùng với việc thiếu tính toán khi xây dựng các nhà máy thủy điện, nạn phá rừng tàn khốc ở Tây Nguyên cũng là tác nhân khiến nguồn nước bị suy giảm trầm trọng.

Theo Tổng cục lâm nghiệp, 7 năm qua, Tây Nguyên mất gần 360.000 hecta rừng. Một số liệu thống kê khác cho thấy, 30 năm qua, 1/3 diện tích rừng ở Tây Nguyên bị tàn phá, với diện tích hơn 1 triệu 500 nghìn hecta, khiến độ che phủ suy giảm nhanh chóng, mất đi khả năng giữ nước.

Ông Trương Vân, Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai cho rằng: “Phá rừng là một tác động rất lớn, tức là nó đã xóa đi những thảm thực vật. Còn việc chuyển đổi rừng nghèo thì tôi nghĩ là nó cũng ảnh hưởng rất lớn. Vì trước đây người dân trồng lúa cạn ở đầu nguồn, bây giờ chuyển qua trồng cà phê, hồ tiêu. Như vậy là cùng một thời điểm, vừa tưới cho lúa nhưng thượng nguồn người ta sử dụng bơm lấy nước để tưới cho cà phê, hồ tiêu nên lượng nước rất thiếu”.

radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
Thủy điện Đại Ninh chuyển nước sông Đa Nhim từ Lâm Đồng về Ninh Thuận khiến thác Ponguor cạn nước (Ảnh: PV VOV)

Trong khi thuỷ điện đổ nước đi nơi khác, rồi mất rừng – mất khả năng giữ nước, thì việc chống hạn ở Tây Nguyên dồn vào các công trình thuỷ lợi. Tây Nguyên hiện có 2.260 công trình thủy lợi, với 1.150 hồ chứa, gần 950 đập dâng, hàng trăm trạm bơm và gần 5.000 km kênh mương. Thế nhưng, hàng trăm công trình thủy lợi xuống cấp, bị bồi lắng, phần còn lại thì quản lý vận hành yếu kém. Mùa lũ xả sai quy trình gây ngập úng. Mùa hạn thì dùng lãng phí vào đầu vụ để cuối vụ cạn khô.

Ông Mai Trọng Dũng, Phó giám đốc Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk nêu thực tế: “Các công trình trước đây giao cho địa phương quản lý thì giao cho huyện, huyện giao cho xã, xã lại giao cho một người cán bộ giao thông – thủy lợi; và công trình đó lại giao về cho thôn, buôn, thì ông trưởng thôn, buôn quản lý, để nhiều công trình xuống cấp, đặc biệt một số công trình để dân lấn chiếm. Các công ty cà phê thì việc đâu tư nâng cấp gần như không còn, nên cũng ảnh hưởng đến năng lực tưới của công trình”.

Tình trạng khai thác nước ngầm vô tội vạ cũng khiến cho Tây Nguyên ngày càng khô khát. Kết quả nghiên cứu của Chương trình cảnh quan bền vững, thuộc tổ chức IDH của Hà Lan cho thấy, khoảng 5 năm trở lại đây, mực nước ngầm ở Tây Nguyên mỗi năm tụt xuống từ 3 đến 5m, trữ lượng nước đã giảm từ 30 – 35%.

Qua thực tế hoạt động khai thác nước ngầm của đơn vị, ông Trần Văn Thiện, Giám đốc Công ty TNHH MTV Cấp nước Đắk Lắk cho biết: “Mùa mình khai thác là trùng với mùa tưới cà phê, hồ tiêu; nông nghiệp bây giờ tưới tiêu quá lớn. 10 năm trước thì giếng có độ sâu so với mặt đất là từ 80 – 90 mét, nhưng hiện giờ xuống đến 110 – 111 mét, xuống hẳn đi từ 10 – 15 mét”.

Một bất cập khác là phần lớn các công trình thủy lợi ở Tây Nguyên chỉ ưu tiên cây lúa, hiệu quả kinh tế thấp; trong khi nhiều cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu và các loại cây ăn quả thì ít được chú trọng.

Toàn vùng hiện có khoảng 600.000 hecta cà phê, 60.000 hecta hồ tiêu, phần lớn do nông dân tự tìm lấy nguồn nước tưới bằng việc đào giếng, khoan giếng; chỉ khoảng 30% diện tích cà phê của các doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư công trình thủy lợi, hiện đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều công trình được Nhà nước đầu tư không đồng bộ; chưa có hệ thống kênh mương, nên còn khoảng 150.000 hecta cây trồng nằm trong khả năng cấp nước nhưng chưa được tưới.

Nhóm PV thường trú VOV tại Tây Nguyên

Giải pháp nào cho thuỷ lợi Tây Nguyên - Phần 1

Tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước cho cây công nghiệp

Thủy lợi với Tây Nguyên đang là vấn đề vừa cấp bách vừa mang tầm chiến lược lâu dài khi vùng đất bazan màu mỡ này đang chịu khô hạn, thiếu nước sản xuất trầm trọng.
Tay nguyen kho han tram trongTây Nguyên là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, với nhiều loại nông sản hàng hóa có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, vùng đất bazan màu mỡ này đang đối mặt với tình trạng khô hạn khốc liệt, thiếu nước sản xuất ngày càng trầm trọng. Bên cạnh sự tác động của biến đổi khí hậu thì nguyên nhân chính là do con người. Thủy lợi đối với Tây Nguyên đang là một vấn đề vừa cấp bách vừa mang tầm chiến lược lâu dài.Thời điểm này, người trồng cà phê ở Tây Nguyên vừa thu hoạch vừa tất bật lo nước tưới cho mùa khô. Ông Lê Quang ở thôn 23, xã Ea Ninh, huyện Chư Kuin, tỉnh Đắk Lắk có nửa hecta cà phê trồng xen hồ tiêu. Mặc dù đã nỗ lực tìm nguồn nước tưới cứu cây trồng, nhưng năng suất cà phê và hồ tiêu đều giảm sút.Ông Lê Quang cho biết: “Cái giếng này là hơn 20m, nhưng nó ra mạch bé nên phải tưới 4, 5 ngày mới xong 5 sào đất này. Sau đó mua máy, mình đưa xuống suối dưới kia, rải dây lên đây 13 cuộn. Giờ mình phải thuê người tới khoan, cái đang tưới đó là 60m. Mình làm cà phê tưới 3 đến 4 đợt, riêng năm nay nắng nhiều, tưới đến 6 đợt”.Ở vùng trọng điểm trồng cà phê của tỉnh Đắk Lắk, ông Nguyễn Anh Hào – Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp Công Bằng, thuộc xã Cư Dlêi M’nông, huyện Chư M’gar cũng chung nỗi lo thiếu nước tưới, dù mùa khô chỉ mới bắt đầu.Ông Nguyễn Anh Hào cho hay: “Cà phê thì phải tưới nước mùa khô, có những vùng thiếu nước trầm trọng. Theo dự báo, tới đây sẽ là năm hạn hán, nỗi lo của bà con thiếu nước. Những năm trước thì bà con tưới suối, tưới hồ, nhưng hiện nay diện tích rất lớn, kể cả trên đồi cao, lượng nước rất thiếu. Bà con đào giếng để tưới, nhưng dần dần giếng cạn, bà con khoan sâu xuống 70, 80 mét, chắc chắn những năm tiếp theo nguồn nước sẽ thiếu”.

radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 1: Tây Nguyên khô khát
Hồ Đắc Yên, Kon Tum cạn trơ đáy (Ảnh: PV VOV)

Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, năm nay có hơn 80.000 hecta cây trồng các loại bị hạn, trong đó gần 15.000 hecta mất trắng, thiệt hại khoảng 2.100 tỷ đồng, hàng chục nghìn hecta cà phê và hồ tiêu bị ảnh hưởng lâu dài. Là vùng trồng cây công nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà phê và hồ tiêu, tỉnh Gia Lai cũng bị thiệt hại nặng nề do hạn hán.

Không chỉ nông dân gặp khó khăn, mà ngay cả doanh nghiệp có điều kiện chủ động hồ đập như Công ty TNHH MTV Cà phê Ia Grai cũng điêu đứng vì nắng hạn. Ông Nguyễn Đại Ngọc, Giám đốc Công ty này cho biết: “Tôi công tác tại Tây Nguyên 35 năm rồi và lịch sử chưa có năm nào hạn hán khốc liệt như năm nay. Chúng tôi có 11 cái hồ thì hiện nay đều tình trạng trơ đáy như thế này. Đây là chứng minh nhất cho biến đổi khí hậu, khi mà nhiệt độ tăng lên, còn lượng mưa giảm dần đi so với các năm trước đây”.

Còn ông Hoàng Phước Bính, gần 30 năm gắn bó với thủ phủ hồ tiêu Chư Sê, tỉnh Gia Lai thì cho biết: “Vụ mùa 2014-2015, do yếu tố khách quan là thời tiết, khí hậu bất thường nên năng suất giảm. Bản thân chúng tôi theo dõi cây hồ tiêu gần 30 năm có thể nói rằng, năm nay là năm năng suất thấp nhất trong mấy chục năm qua. Có nhiều vườn tiêu giảm đến 60 – 70%, tựu chung lại là giảm đến 30 – 40%”.

Không chỉ hạn hán mùa khô, mà vài năm nay, Tây Nguyên còn thiếu nước cả giữa mùa mưa. Tháng 6 năm nay là vào mùa mưa, nhưng công trình đại thủy nông Ayun Hạ – hồ thủy lợi lớn nhất Tây Nguyên (có dung tích 253 triệu mét khối) cạn đến mực nước chết, khiến hàng chục nghìn hecta lúa nước, mía, sắn và hoa màu ở khu vực Đông Nam Gia Lai bị ảnh hưởng, tổng thiệt hại hơn 150 tỷ đồng.

Ở cực Nam Tây Nguyên, hai huyện Cát Tiên và Đạ Tẻ là vựa lúa của tỉnh Lâm Đồng, trước đây là rốn lũ, hàng năm được bù đắp phù sa màu mỡ, nhưng năm nay khô khát vì nước sông Đồng Nai giảm sâu, các trạm bơm công suất lớn cũng trơ vòi. Mực nước ở hầu hết các hồ chứa trên địa bàn đều tụt giảm từ một đến vài mét.

radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 1: Tây Nguyên khô khát
Nông dân Tây Nguyên nỗ lực tìm nguồn nước tưới cho cà phê (Ảnh: PV VOV)

Tình hình ở 2 tỉnh Đắc Nông và Kon Tum cũng tương tự. Riêng Đắk Nông có hơn 500 hecta lúa thiếu nước, khoảng 21.000 hecta cà phê và hồ tiêu bị ảnh hưởng. Vụ hè thu vừa rồi, gia đình chị Phạm Thị Huê ở xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông trồng 1 hecta ngô nhưng không có thu hoạch vì nắng hạn. Mùa khô tới, chị lại lo 1 hecta cà phê và 6 sào ruộng không có nước tưới.

Chị Huê cho biết: “Bà con đang lo, cây bắp bỏ rồi, không thu hoạch được vì không có nước tưới, còn ruộng đang dọn để làm. Nếu không có nước về thì cũng bỏ luôn, cà phê tưới nước của mương này cũng bỏ luôn. Năm ngoái tưới 3 lần năm nay cũng phải tưới 4 lần, đang dự đoán không biết có đủ nước tưới hay không, không đủ thì phải bỏ cà phê”.

Theo dự báo, thời gian tới Tây Nguyên tiếp tục đối mặt với tình hình khô hạn gay gắt. Lượng mưa sẽ thấp hơn so với trung bình nhiều năm từ 20 – 40%, vì vậy dòng chảy trên các sông suối sẽ thiếu hụt tương ứng.

Ông Y Đhăm Ênhuôn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, tỉnh này dự kiến cắt giảm hơn 5.000 hecta lúa và cây trồng ngắn ngày, hơn 10.000 hecta phải chống hạn cuối vụ. Nhưng đối với khoảng 250.000 hecta cà phê và hồ tiêu thì không có giải pháp nào khả thi.

Ông Y Đhăm Ênhuôn cho biết: “Tất cả các hồ thủy lợi thường lại không nằm trong vùng trồng các cây công nghiệp dài ngày. Mà mực nước ngầm ở Tây Nguyên nói chung, Đắc Lắc nói riêng liên tục tụt xuống. Như vậy là xây dựng kế hoạch để chống hạn cho cây công nghiệp dài ngày là không có phương án nào khả thi. Rất nhiều diện tích không có nguồn nước, kể cả đào giếng, khoan giếng”.

Nhóm PV thường trú VOV tại Tây Nguyên