Monthly Archives: Tháng Một 2016

Lợi ích từ phát triển cà phê bền vững chuẩn 4C

Trong khi nhiều hộ trồng cà phê than lỗ vì giá cà phê xuống thấp thời gian qua, những hộ trồng cà phê đạt chuẩn 4C vẫn có lợi nhuận khá.

Ca phe chuan 4CTiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận
Bà Mai Thị Chung, ở xã Quảng Tiến, H.Cư M’gar (Đắk Lắk), lật lại tấm lịch thời vụ cà phê do chương trình cà phê 4C cung cấp để kiểm tra các công việc cần làm. Đây là cuốn lịch rất đặc biệt với người trồng cà phê vì nó liên quan đến việc chăm sóc cây cà phê theo từng tháng; đồng thời có thể tái sử dụng đến 5 – 7 năm mới cần phải cập nhật lại. Bà Chung có rẫy cà phê trên 4 ha và sống bằng nghề này cũng tròm trèm 20 năm. Bốn năm trước, bà tham gia chương trình 4C.
“Trước đây làm theo kinh nghiệm, bón phân, nước tưới không biết bao nhiêu là vừa. Vì vậy, để chắc ăn, bà con có tâm lý bón, tưới càng nhiều càng tốt. Một gốc cà phê tôi thường bón một ký phân và tưới nước 5 phút. Từ khi đi học mình mới biết bón phân thừa thì cây cũng không hấp thụ được. Cũng như tưới nước nhiều quá sẽ cuốn theo cả phân bón gây lãng phí”, bà Chung nói và cho biết khi tham gia chương trình, bà được hướng dẫn chỉ cần bón 500 – 600 gr phân tùy từng cây, mỗi năm thường bón 3 lần. Thời gian tưới nước cũng rút ngắn chỉ còn phân nửa.
“Một héc ta cà phê có trung bình 1.100 cây, tính ra lượng phân bón tiết kiệm được khoảng 1,5 tấn/năm. Chưa kể tiền điện để tưới nước, công tưới cũng giảm hẳn. Giảm phân bón, giảm tưới nhưng làm đúng kỹ thuật nên năng suất tăng so với cách làm truyền thống”, bà Chung hồ hởi.
Cũng nhờ thế, dù mấy năm gần đây giá cà phê liên tục giảm, nhiều người trồng cà phê không có lời, thậm chí còn lỗ nhưng rẫy cà phê của bà Chung vẫn lãi gần 20 triệu đồng/ha.
Bà Nguyễn Thị Xoa, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất cà phê 4C thôn Tiếng Cường (Quảng Tiến, H.Cư M’gar), cũng kể trước đây vì sợ trộm cắp bà con thường thu cà phê non, dẫn đến chất lượng, năng suất thấp, giá bán không cao. Giờ để chín đủ mới thu hoạch nên sản lượng và chất lượng cà phê cũng tăng lên, giá bán cà phê cũng cao hơn thị trường. “Tuy cà phê 4C không có doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nhưng trước giờ sản xuất bao nhiêu bán cũng hết. Những kiến thức canh tác 4C có lợi cho bà con nông dân, vừa tiết kiệm chi phí đầu tư vừa hiệu quả cao nên chúng tôi vẫn làm theo cách này”, bà Xoa nói.
4C là gì ? 4C được viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Common Code for Coffee Community – bộ Nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê, ra đời năm 2013. 4C được thực hiện với sự hỗ trợ của Bộ Hợp tác kinh tế và phát triển Liên bang Đức (BMZ), Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) và Hiệp hội Cà phê Đức (DKV). Ngay sau đó, Ban Thư ký nhà nước về kinh tế Thụy Sĩ (SECO), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế Anh và Liên đoàn Cà phê châu Âu (ECF) cũng tham gia. Tháng 3.2014, Hiệp hội 4C đã có mặt trên 21 quốc gia. Tại VN, Hiệp hội 4C mở văn phòng đại diện tại tỉnh Đắk Lắk vào tháng 12.2009 (là văn phòng thứ 4 của 4C trên thế giới). Hiện có 120.000 nông dân tham gia sản xuất theo chương trình 4C, trên diện tích 200.000 ha, với sản lượng 600.000 tấn/năm.

 

Những người như bà Chung, bà Xoa là thành viên của chương trình Nescafé Plan do Nestlé VN phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) và các đối tác khác thực hiện tại 4 tỉnh Tây nguyên là Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng. Theo đó, dự án cung cấp giống cà phê chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, năng suất cao cho nông dân, nhằm cải thiện chất lượng và tăng năng suất và thu nhập; hỗ trợ 50% kinh phí đầu tư cây giống mới. Tổng số giống được phân phối cho nông dân qua 5 năm đạt 11 triệu cây.

Song song đó, Nescafé Plan hỗ trợ tập huấn các biện pháp khoa học kỹ thuật với nền tảng là bộ quy tắc 4C sản xuất cà phê bền vững của Tổ chức 4C cho hơn 100.000 lượt nông dân. Đây là kết quả của một chuỗi các nỗ lực nhằm đưa VN trở thành tham chiếu cho cà phê Robusta thế giới. Sau 5 năm triển khai, kết quả cho thấy sản lượng cà phê tăng 14%, chất lượng cà phê ổn định, qua đó tăng thu nhập của bà con nông dân bình quân 16 triệu đồng/ha/năm. Đến nay, đã có hơn 21.000 nông dân tham gia dự án đạt chứng nhận 4C, với sản lượng trên 100.000 tấn/năm, trên diện tích khoảng 32.000 ha.
Chế biến sâu
Ông Phạm Phú Ngọc, Trưởng bộ phận hỗ trợ nông nghiệp của Nestlé, cho biết chương trình 4C được xây dựng trên tinh thần canh tác có trách nhiệm và sản xuất, tiêu dùng cũng có trách nhiệm. Chính vì vậy, là đơn vị thu mua chế biến Nestlé luôn tuân thủ nghiêm những quy định cao nhất về chất lượng. Cà phê sau khi được thu mua về kho, trước khi đưa vào chế biến bộ phận kiểm định chất lượng lấy từng mẫu rang xay để pha ra cà phê nguyên chất. Sau đó, bộ phận thẩm định là các chuyên gia nếm, thử cà phê. Các chuyên gia nếm cà phê được chia theo từng nhóm 6 người. Mỗi mẫu cà phê trước khi đưa vào sản xuất phải được các chuyên gia này thông qua. Mẫu cà phê nào rớt lại thì cả lô hàng sẽ bị trả về cho các nhà cung cấp.
Cà phê nhân sau khi qua khâu thẩm định của các chuyên gia nếm thử sẽ được đưa vào xử lý vệ sinh lần cuối. Cà phê được đưa vào chế biến đòi hỏi cần phải đồng đều về kích cỡ, vì nếu có sự khác biệt thì trong quá trình rang sẽ không có sự đồng đều về độ chín, ảnh hưởng đến chất lượng. Đặc biệt, tại nhà máy chế biến cà phê của Nestlé ở Đồng Nai còn có dây chuyền sử dụng nước để ly trích cafein ra khỏi hạt cà phê. Theo các chuyên gia, đây là công nghệ hiện đại nhất hiện nay và hoàn toàn tự nhiên, vì trước đây để tách cafein ra khỏi hạt cà phê người ta phải dùng đến một số loại hóa chất. Loại cà phê này hiện được Nestlé VN sản xuất để cung cấp cho thị trường châu Âu, nơi thích uống cà phê nhưng không thích bị kích thích bởi cafein. Cafein được tách ra để làm nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất khác.

Chí Nhân

Công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây cà phê - Nhà Bè Agri

Người nông dân vẫn dè dặt với "tưới tiết kiệm nước"

Mặc dù khẳng định được hiệu quả, nhưng người dân Tây Nguyên vẫn dè dặt sử dụng công nghệ mới do giá thành khá cao, tâm lý ngại chuyển đổi.

Trong quá trình tìm giải pháp phòng chống hạn hán cho cây cà phê, thời gian qua, một số doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nông dân đã áp dụng những công nghệ tưới tiết kiệm nước cho các vườn cà phê ở Tây Nguyên. Công nghệ mới bước đầu đã khẳng định được hiệu quả, nhưng người dân Tây Nguyên vẫn dè dặt sử dụng, do giá thành khá cao và tâm lý ngại chuyển đổi.

Đầu mùa khô năm nay, ông Nguyễn Đình Hào, Chủ tịch hội đồng quản trị Hợp tác xã nông nghiệp Công Bằng – Chư Đliê Mnông, huyện Chư Mnga, tỉnh Đăk Lăk, quyết định đầu tư 76 triệu đồng lắp đặt thử nghiệm hệ thống tưới nhỏ giọt cho 1,2 ha cà phê của hợp tác xã. Dù đã thấy hiệu quả sau 3 tháng khô hạn, nhưng ông Hào vẫn nghi ngại.

“Công nghệ tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước đã chứng minh được hiệu quả tiết kiệm được thời gian, tiết kiệm nguồn nước, bảo vệ được môi trường đất và còn tiết kiệm được 30% phân bón. Nhưng nhiều người trồng cà phê vẫn băn khoăn lo ngại khi tưới nước nhỏ giọt tiết kiệm liệu sẽ khiến cây cà phê không ra hoa đồng loạt. Khi nào công nghệ tưới nước đảm bảo được chất lượng cà phê ra hoa đậu trái, gia đình sẽ nhân rộng ra toàn bộ hơn 40 ha”, ông Hào cho biết.

TS. Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho biết, hệ thống tưới tiết kiệm được Viện và một số doanh nghiệp ở Tây Nguyên nghiên cứu, cải tiến thành công và triển khai trong thực tế từ khoảng 5 năm nay. Giá thành lắp đặt cho 1 ha khoảng 50 triệu đồng, tuổi thọ thiết bị khoảng 10 năm.

Hiệu quả công nghệ tưới mới là rất rõ nét, đó là tiết kiệm 1 nửa lượng nước tưới, tiết kiệm hoàn toàn chi phí nhân công cho việc tưới; giảm được 20% phân bón và tăng được 20% năng suất. Dù vậy, đến thời điểm này, diện tích cà phê được tưới tiết kiệm vẫn rất khiêm tốn, mới dừng ở các mô hình nhỏ lẻ của một số doanh nghiệp và nông dân áp dụng trên một phần diện tích của gia đình.

tuoi nuoc tiet kiem: nguoi trong ca phe van con de dat hinh 0
Công nghệ tưới nước nhỏ giọt cho cây cà phê được nhiều nông dân quan tâm nhưng vẫn e ngại trong việc chuyển đổi. (Ảnh: Internet)
Cũng theo TS. Lê Ngọc Báu, giá cà phê mấy năm nay thấp, việc đầu tư công nghệ tưới tiết kiệm một lần hết 50 triệu đồng, giá thành này không dễ được nông dân chấp nhận. Thêm vào đó, nhiều bà con còn lo ngại việc tiết kiệm nước sẽ làm giảm năng suất vườn cây.  Đây là những rào cản chính khiến tưới tiết kiệm vẫn đang dừng ở quy mô nhỏ. Tháo gỡ vướng mắc này, các địa phương cần tăng cường hỗ trợ kinh phí để tăng số lượng các mô hình thí điểm, trực quan hiệu quả kinh tế rộng rãi đối với người trồng cà phê.

“Để phổ biến công nghệ tưới nước tiết kiệm, nên xây dựng nhiều mô hình hơn trong thực tế, từ chỗ áp dụng công nghệ tưới cho đến khi thu hoạch, khi tạo được niềm tin chắc chắn người nông dân sẽ quyết tâm đầu tư. Hiện nay vẫn đề quan trọng nhất vẫn là nhận thức, khi thay đổi đầu tư, người trồng cà phê vẫn sợ ảnh hưởng đến năng suất”, TS. Báu cho hay.

Cùng chung suy nghĩ với TS. Lê Ngọc Báu, nông dân Nguyễn Bá Hán, ở xã Ea Bhôk, huyện Chư Quynh, người đã thành công với hệ thống tưới tiết kiệm cho cà phê từ 2 năm nay cho biết, sử dụng công nghệ mới ban đầu gia đình cũng ái ngại, sợ cà phê không ra hoa.

“Sau hơn 2 năm áp dụng công nghệ tưới nước mới, giá đình thấy đạt yêu cầu. Nhất là đối với những gia đình có ít lao động công nghệ mới mang lại hiệu quả rất tốt, một năm tiết kiệm được từ 15-17 triệu đồng chi phí tưới 1ha cà phê. Trước mắt, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ để nhiều người nông dân có thể lắp đặt công nghệ này nhiều hơn”, anh Hán bày tỏ.

Cho biết rõ hơn về chính sách hỗ trợ của Nhà nước, ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết, để đầu tư công nghệ mới, người dân có thể tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi theo Quyết định 68/2013 của Chính phủ về hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp. Tuy vậy, nguồn lực nhà nước có hạn, nên quan trọng nhất vẫn là huy động các nguồn lực xã hội.  Đã có những mô hình mới, cách làm hay, việc hiện nay là phải đẩy mạnh thông tin để người dân tin tưởng, tiếp cận, áp dụng công nghệ tưới phù hợp.

“Cần phải đổi mới về thông tin tuyên truyền. Các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan thông tin truyền thông, các Sở Nông nghiệp, phải chủ động trong công tác thông tin như vậy mô hình mới được nhân rộng được. Ngoài ra rất cần những mô hình tốt để người dân được nhìn thấy, cụ thể là cần hỗ trợ những nông dân làm giỏi, doanh nghiệp làm tốt, không phải mấy mô hình của các cơ quan nhà nước. Cùng với đó cũng cần tổ chức mạng lưới những người áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước, bao gồm các nông dân, doanh nghiệp cung ứng, doanh nghiệp sử dụng, các cơ quan quản lý nhà nước, và cả các tổ chức quốc tế…, để họ chia sẻ, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ tiền bạc”, Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng chỉ rõ.

Áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cà phê không chỉ là giải pháp phòng chống hạn hán, mà còn hướng đến sản xuất bền vững, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm cho loại cây trồng chủ lực của Tây Nguyên.

Bên cạnh việc thực hiện chính sách hỗ trợ sát với nông dân hơn, các cấp các ngành cần đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân, mở rộng các hình thức liên kết, hợp tác, để nhân rộng công nghệ tưới mới vào những vùng chuyên canh cà phê./.

Minh Huệ/VOV – Tây Nguyên