Author Archives: hoanglethu79

HỘI CHỢ NÔNG NGHIỆP QUỐC TẾ SIMA-THÁI LAN

 

Được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2015, với chuỗi sản phẩm đáp ứng riêng cho thị trường Đông Nam Á, chỉ sau 2 năm tổ chức, SIMA ASEAN đã thành công và nhận được sự đánh giá cao của giới chuyên môn, có 98% các nhà trưng bày và khách tham quan hài lòng về kết quả làm việc tại triển lãm. Năm 2016, SIMA đã đón tiếp hơn 13.000 khách tham quan đến từ 56 quốc gia. Việt Nam là một trong những nước có số lượng khách tham quan nhiều nhất.

Triển lãm năm nay hứa hẹn sẽ trở nên sôi động và hấp dẫn hơn, mang tới những giải pháp và công nghệ tiên tiến nhất cho ngành công nghiệp châu Á. Dưới sự đồng tổ chức của Bộ nông nghiệp Thái Lan và hỗ trợ từ hơn 20 hiệp hội chuyên ngành, SIMA ASEAN 2017 quy tụ 400 thương hiệu của 23 quốc gia, trưng bày trên diện tích 23.500m2 chia làm 18 lĩnh vực.

Song song với hoạt động trưng bày, nhiều chương trình khác cũng được tổ chức xuyên suốt 3 ngày triển lãm như chuỗi hội nghị, hội thảo chuyên ngành với sự góp mặt của các chuyên gia nông nghiệp hàng đầu Thái Lan và khu vực; chương trình “Nhà mua hàng VIP” (“VIP buyers”) với lịch làm việc B2B thiết kế riêng theo nhu cầu của từng doanh nghiệp tham dự; các buổi tham quan thực địa;…

Ngoài ra, SIMA ASEAN 2017 còn trình bày những công nghệ, sản phẩm mới nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, cập nhật xu hướng phát triển ngành để từng bước hướng tới kỷ nguyên “Nông nghiệp 4.0”.

Bộ phận phát triển thì trường của công ty TNHH Nông  Nghiệp và Thực Phẩm Nhà Bè đã tham gia với tư cách là VIP buyer với mục địch tìm kiếm thêm những sản phẩm tốt đưa về để phục vụ cho như cầu của bà con.

Theo nhận định chủ quan thì trên 50% doanh nghiệp tham gia hội chợ này đến từ Trung Quốc, với rất nhiều các chủng loại mặt hàng phục vụ trong Nông nghiệp. Nước chủ nhà Thái Lan cũng chỉ chiểm một phần khiêm tốn trong các gian hàng của hội chợ, các doanh nghiệp còn lại đến từ Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam (có 2 gian hàng). Các gian hàng từ Châu Âu và các nước phương Tây cũng rất ít.

Các sản phẩm được trưng bày tập trung nhiều vào các thiết bị tưới, các thiết bị hỗ trợ bà con trong việc trồng, chăm sóc và thu hoạch mùa màng.

Xin gửi đến bà con một số hình ảnh trong triển lãm Sima 2017

Robo dùng để phun thuốc cho cây từ trên cao
Các gian hàng Trung Quốc chiếm phần lớn trong hội chợ
Xe tưới tự cuốn khổng lồ của Ý
Các sản phẩm phục vụ cho việc tưới và chăm sóc cây trong gia đình
Một trong những sản phẩm đầu tưới của Đài Loan
2 gian hàng của Việt Nam

KỸ THUẬT ƯƠM GIỐNG, TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CÀ TÍM

Nghiên cứu mới đây cho thấy, thực phẩm rau quả như cà tím có tác dụng tuyệt vời đối với sức khỏe và giúp làm giảm nguy cơ béo phì và tỉ lệ tử vong, bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch hơn nữa còn tăng cường sức khỏe mang lại cho bạn làn da săn chắc và mái tóc khỏe mượt một cách tự nhiên.

Ngoài ra cà tím cũng là một loại thực phẩm quen thuộc trong mỗi hộ gia đình, và là một trong những cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, rất đáng để bà con đầu tư.

Xin giới thiệu đến bà con một số kinh nghiệm trong việc ươm giống, trồng và chăm sóc loại cây này.

Theo kinh nghiệm của nhiều nhà vườn cho thấy các tỉnh Nam bộ không nên trồng vào các tháng mùa mưa (tháng 5, tháng 6), các tỉnh phía Bắc không nên trồng vào các tháng 12, tháng 1 vì rất dễ bị sâu đục quả gây hại vào thời gian cây cho thu hoạch. Do vậy nên trồng vào vụ đông-xuân có thể trồng từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau và vụ hè-thu trồng từ tháng 4 đến tháng 7.

Gieo ươm cây giống: Do hạt cà có vỏ gỗ cứng tương đối dày nên trước khi gieo phải ngâm nước 24-30 giờ, vớt ra ngâm tiếp trong nước ấm 50 độ C (2 sôi, 3 lạnh, vừa để diệt nấm bệnh, vừa kích thích cho hạt nhanh nẩy mầm) 1 giờ, ủ trong vải ẩm cho nứt nanh rồi đem gieo trên liếp ươm hoặc trong túi bầu. Lượng hạt giống cần gieo để có đủ cây giống trồng cho 1.000 m2 là từ 30-40g. Gieo đều và thưa, cần tưới giữ ẩm cho đất 4-5 lần, tỉa bỏ những chỗ quá dày, những cây mọc yếu. Cây con có 5-6 lá thật, cao 6-8cm, khoẻ mạnh, thân mập đều là nhổ đem trồng ra ruộng.

Làm đất, bón lót, trồng cây:

Chọn các loại đất cát pha, đất thịt nhẹ, giàu mùn, tơi xốp, dễ thoát nước, có độ pH từ 6,8-7,2 là thích hợp nhất. Cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại và lên luống mui luyện rộng 1,2m, cao 20-25cm, rãnh rộng 30cm. Lượng phân bón lót cho 1.000 m2 bao gồm: 800kg phân chuồng hoai mục + 30kg supe lân + 5kg phân kali + 50kg tro bếp. Bổ hốc sâu 10-15cm thành 2 hàng trên mặt luống với khoảng cách: Hàng cách hàng 60cm, cây cách cây 70cm (mật độ khoảng 2000-2.500 cây/1.000 m2).Trộn đều các loại phân trên với nhau, bón theo hốc, trộn đều với đất, lấp bằng để 3-4 hôm mới trồng cây. Mùa mưa nên trồng thưa hơn sẽ cho năng suất cao hơn là trồng dày. Kinh nghiệm bà con Hải Dương, Nam Định là có thể trồng xen tỏi tây, hành lá và các loại rau ăn lá ngắn ngày vào giữa 2 hàng cà tím vừa tăng thêm thu nhập vừa hạn chế được cỏ dại trong giai đoạn đầu.

Chăm sóc:

Bón thúc lần 1 (10 ngày sau trồng): 5-6kg phân urê, 3-4kg phân KCl, 20-25kg khô dầu hoặc xác mắm;

lần 2 (25-30 ngày sau trồng): 7-8kg urê, 4-5kg KCl;

lần 3 (45-50 ngày sâu trồng): 8-10kg urê, 5-6kg KCl, 25-30kg bánh khô dầu hoặc xác mắm.

Sau khi thu hoạch lứa quả thứ 2 nên bón thúc thêm 5kg urê, 15-20 kg phân chuồng hoai mục hoặc bã mắm, khô dầu cho cà sai quả và có thể thu được nhiều lứa. Chú ý kết hợp làm cỏ, vun gốc cho cà vào các đợt bón thúc.

Cà Tím là cây ưa ẩm, nhưng không chịu được úng nên việc cung cấp nước tưới đúng và đủ rất cẩn thiết với loại cây này

Thường xuyên tưới đủ ẩm cho cà sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là thời kỳ ra hoa, nuôi quả. Có thể dẫn nước ngập 2/3 rãnh luống cho nước ngấm vào mặt luống khoảng 2-3 giờ rồi tháo cạn nước đi. Không để mặt luống bị khô, thiếu nước cà sẽ kém ra hoa, năng suất kém, trái nhỏ.

Để tránh tình trạng đất quá khô hoặc quá nhiều nước bà con có thể sử dụng các phương pháp tưới hiện đại, đang được phổ biến và phù hợp với cây cà tím đó là tưới nhỏ giọt, dùng các đầu tưới nhỏ giọt hoặc sử dụng dây tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống có lưu lượng nước phù hợp với nhu cầu của cây  trồng.

Tỉa nhánh, cắm giàn: Khi cây bắt đầu ra hoa nên tỉa bỏ bớt các cành nhánh dưới chùm hoa thứ nhất cho gốc được thông thoáng. Khi cà ra đợt hoa thứ 2 thì bấm ngọn, hãm cành hạn chế chiều cao để cho cà ra nhiều cành nhánh quả. Khi cà bắt đầu phân nhánh thì làm giàn bằng tre, nứa cho cà khỏi đổ.

– Chú ý kiểm tra sâu bệnh thường xuyên để có biện pháp phòng trị kịp thời. Các đối tượng gây hại chính là sâu xám, sâu ăn lá, bọ rùa 28 chấm, nhện đỏ, rệp… Dùng các loại thuốc trừ sâu như Ofatox, Dipterex, Regent… để phun trừ. Hạn chế độ ẩm trong luống, tránh để bị úng ngập nhằm tránh các bệnh hại do nấm và vi khuẩn như lở cổ rễ, thối gốc, chết ẻo, chết nhát… Có thể sử dụng các loại thuốc trừ nấm như Validacin, Score, Topsin M, Ridomil, Aliette… để phòng trừ ngay từ khi mới có triệu chứng ban đầu.

-Thu hoạch: Thu hái khi quả đã lớn đẫy, căng đều, vỏ bắt đầu chuyển từ màu tím sang tím nhạt. Cách 2-3 ngày thu chọn một lần, không để cà quá già kém chất lượng.

Để giống: Chọn những quả lớn đều, không sâu bệnh ở lứa quả thứ 2, thứ 3 để lại trên cây cho chín già làm giống. Thu về để thêm 1 tuần nữa cho chín hoàn toàn rồi mới bổ lấy hạt rửa sạch, phơi nơi thoáng mát cho khô hẳn để làm giống cho vụ sau

TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY MÍA

Cây mía và nghề làm mật, đường ở Việt Nam đã có từ xa xưa, nhưng công nghiệp mía đường mới được bắt đầu từ thế kỷ thứ XX. Tuy nhiên vùng nguyên liệu quy mô nhỏ bé, phân tán, chưa được đầu tư tương xứng với yêu cầu sản xuất công nghiệp. Chính vì vậy việc phát triển mía theo hướng thâm canh để đạt năng suất đường cao nhất trên một đơn vị diện tích là vấn đề thiết thực và đúng đắn. Để đạt được điều đó cần phải có biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ làm đất, chọn giống, trồng, bón phân, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.

– Thời vụ: thời vụ trồng mía thường vào đầu và cuối mùa mưa. Vụ đầu mùa mưa trồng trong tháng 4-5 để sau khi mía nảy mầm sẽ có đủ nước cho mía sinh trưởng, phát triển. Cuối mùa mưa nên trồng trong tháng 9 -11 tùy theo vùng kết thúc sớm hay muộn. Vụ trồng này giúp mía kết thúc nảy mầm bắt đầu đẻ nhánh khi sang mùa khô và chịu đựng được khô hạn để đầu mùa mưa sẽ phát triển nhanh.

– Đất: mía có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất pha cát, đất xám đến đất sét nặng. Riêng đối với một số loại đất như: đất nhiều cát, ít chất mùn, ít giữ nước – phân, dẽ chặt; Đất chua, nhiều phèn (sắt và nhôm); Đất mất chất hữu cơ, đất bị chai do tập quán đốt lá mía sau thu hoạch, ta phải tiến hành cải tạo bằng cách bón phân chuồng (trâu, bò),các loại tro dừa, tro rơm, tro trấu; Bón vôi, Đôlômít để hạ phèn hay bón các loại phân lân có tính kiềm như lân nung chảy, lân cải tạo đất. Có thể luân canh hoặc trồng xen canh cây họ đậu để làm đất tốt hơn.

– Làm đất: Tiến hành vệ sinh đồng ruộng để diệt trừ cỏ dại, mầm mống sâu bệnh, làm cho đất tơi xốp thông thoáng. Cày đất là khâu quan trọng giúp bộ rễ mía ăn sâu, chịu hạn, chống đổ và tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây. Cày lần đầu cần sâu khoảng 40 – 50 cm, bừa kỹ, dọn sạch cỏ rác. Bón 1 – 1,5 tấn vôi bột/ha trước khi bừa lần cuối.Khoảng cách hàng trồng tùy theo điều kiện chăm sóc. Nếu xới bằng máy khoảng cách 1 – 1,2 m, nếu chăm sóc thủ công có thể trồng dày hơn khoảng 0,8 – 1 m. Đào hộc: rộng 20 – 30 cm, sâu 20 – 30 cm. Bón lót toàn bộ phân nền hữu cơ, phân lân và thuốc Basudin trước khi đặt hom 1 – 2 ngày.

– Chuẩn bị hom mía: Giống mía có vai trò rất quan trọng trong thâm canh mía. Phẩm chất hom giống là yếu tố quan trọng quyết định năng suất mía. Nếu hom giống chất lượng kém thì các biện pháp kỹ thuật khác cũng tác động không đáng kể đến năng suất. Để có năng suất đường cao cần chọn những giống có chữ đường cao, năng suất cao như: ROC 25, ROC 27, ROC 16, MEX…Chọn hom ta nên chọn hom không sâu bệnh, không lẫn giống, không xây xát, không quá già và cũng không quá non (tốt nhất là từ 6 -8 tháng tuổi). Hom mía phải có từ 2-3 mầm tốt. Ngâm hom trong nước 8-24 giờ đối với giống nảy mầm chậm. Tiến hành chặt mỗi hom hai mắt mầm, chặt ngang giữa lóng, không chặt sát mầm. Hom chặt xong đem trồng ngay là tốt nhất. Một ha cần từ 4 – 6 tấn hom giống, cũng có thể trồng từ 8 – 10 tấn/ha tùy theo loại giống và chất lượng giống.

– Đặt hom: giống chuẩn bị xong là có thể đặt ngay. Hom đặt thành một hàng giữa rãnh mía, hai hom cách nhau từ 10 – 20 cm (tùy theo giống). Đối với nền đất ẩm khi đặt hom nên ấn nhẹ cho lún xuống nửa thân hom, để giữ ẩm cho mầm và rễ dễ phát triển. Ở nền đất khô, hom đặt xuống phải lấp một lớp đất mỏng để cố định hom và giữ ẩm.

– Xen canh cải tạo đất mía: Bốn tháng đầu khi mới trồng hoặc chặt mía, giữa 2 hàng còn trống nên trồng xen đậu vừa tăng thu nhập vừa nâng cao năng suất mía.

– Chăm sóc: sau khi trồng 1 – 1,5 tháng tuổi nếu phát hiện có chết hom (dài hơn 50cm) nên tiến hành trồng giặm để đảm bảo mật độ bên cạnh đó nên làm sạch cỏ ở giai đoạn cây con để cỏ không cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng với mía. Thực hiện kết hợp với 2 lần bón phân để vô chân cho mía.

+ Đánh lá mía: có thể đánh lá 3 lần cho mía tương ứng lúc mía khoảng 3, 6, 9 tháng tuổi (lúc này mía chuẩn bị thu hoạch).

Vườn mía sử dụng sản phẩm dây tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống của hãng Rivulis. Sản phẩm do Nhabeagri cung cấp.

+ Tưới nước: Bình quân trong vụ mía thường tưới từ 15-20 lần.

* Thời kỳ mía nảy mầm, đẻ nhánh: tưới 4 lần/ tháng.

* Thời kỳ đẻ nhánh làm lóng: 2-3 lần/tháng.

* Mía làm lóng: 1-2 lần/tháng.

Để đảm bảo việc tưới nước đúng thời điểm, liều lượng bà con có thể sử dụng hình thức tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống, tùy thuộc vào khoảng cách giữa các hom mía để chọn dây tưới cho phù hợp. Sử dụng các hình thức tưới này sẽ giúp bà con tiết kiệm được lượng nước tưới, kiểm soát được thời gian tưới cũng như định lượng chính xác lượng nước cho từng thời kỳ của cây mía.

* Mía sắp thu hoạch phải bỏ nước từ 20 ngày trở lên.

Lưu ý: Đất trồng mía không được để nước ngập úng, phải thoát nước nhanh không để đọng nước vào mùa mưa. Sau khi trồng 10-15 ngày nếu gặp mưa nên xới phá váng.

– Phòng trừ sâu bệnh: bà con nên rải Basudin với liều lượng 20 kg/ha vào rãnh mía trước khi đặt hom. Chú ý thường xuyên thăm đồng để chặt và tiêu hủy các cây mía bị sâu bệnh tấn công để tránh lây lan. Đối với đất mới khai hoang hoặc có mối dùng 20-30Kg thuốc Diaphos, Padan để rải. Một số loại sâu bệnh như: sâu đục thân, rệp có thể dùng Diaphos, Padan, Supracide, Trebon, Bascide xịt, rải vào gốc mía. Riêng trường hợp cây bị nhiễm bệnh than nên đưa cây ra khỏi ruộng và đốt để tiêu hủy mầm bệnh. Ngoài ra, bà con có thể tiến hành bóc lá để hạn chế sâu bệnh, rệp, chuột và hạn chế ra rễ trên thân. Một số sâu bệnh chính thường gặp như: bệnh thối đỏ, bệnh than đen, sâu đục thân, sâu hại gốc, rệp trắng…

– Thu hoạch: tùy từng giống mía ta trồng mà xác định được giai đoạn chín của mía. Quan sát màu da thân mía trở nên bóng, sậm, ít phấn, lá khô nhiều, độ ngọt giữa gốc và ngọn không chênh lệch là thu hoạch được. Dùng dao thật bén đốn sát gốc tất cả các cây trên hàng mía, để vụ sau mía tái sinh đều hơn. Thu hoạch đến đâu vận chuyển đến đó, không nên để lâu quá hai ngày lượng đường trong mía sẽ giảm.
(ST)

CÂY THUỐC QUÝ - TRINH NỮ HOÀNG CUNG

Trinh nữ Hoàng cung có nguồn gốc từ Ấn độ, được trồng rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á và cả ở phía Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam cây được trồng chủ yếu từ Quảng Nam- Đà Nẵng trở vào, sau này cũng được trồng ở một số tỉnh phía Bắc.

Cây trinh nữ hoàng cung có hình dạng giống như cây huệ biển hoặc cây náng tuy nhiên cây trinh nữ hoàng cung lại là dạng cây cỏ không có thân cây cứng chắc như cây náng.

Thân cây như củ hành tây to, có đường kính lớn từ 10-15cm.  Lá cây trinh nữ hoàng cung là những bẹ lá úp vào nhau thành hình cây giả có chiều cao 10cm.  Lá cây trinh nữ hoàng cung có màu xanh đậm, chiều dài từ 80-100cm, chiều rộng từ 5-8cm. Hai bên mép lá chính là gân lá song song hình sóng. Hoa của cây trinh nữ hoàng cung có màu trắng thành từng chùm, đôi khi có màu hồng phớt trông rất đẹp.

Cây trinh nữ hoàng cung được mọi người biết đến từ xa xưa với tác dụng  chữa bệnh u xơ, ung thư tử cung và ung thư tiền liệt tuyến.

Không những vậy, tác dụng của cây trinh nữ hoàng cung còn có hiệu quả điều trị bệnh viêm họng, bướu cổ, viêm loét dạ dày, phong thấp và cả mụn nhọt.

Nghiên cứu khoa học cho thấy, cây trinh nữ hoàng cung có chứ tới 32 alkaloids, chất này có tác dụng ức chế phân bào, ngăn ngừa sự phát triển của tế bào khối u, kháng khuẩn tốt, từ đó bạn có thể phòng ngừa và điều trị bệnh u xơ như bệnh u xơ tiền liệt tuyến, u xơ tử cung, khối u ở cổ hay u xơ vú.

Mặc dù công dụng chữa bệnh từ cây trinh nữ hoàng cung rất tốt nhưng khi sử dụng những bài thuốc từ cây này cần phải có một liều lượng đúng và tránh trường hợp nhầm lẫn cây trinh nữ hoàng cung với cây náng dẫn tới bệnh không thiên giảm mà còn có hại cho sức khỏe.

Trinh nữ hoàng cung là loại ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu bóng 1 phần, sinh trưởng và phát triển tốt ở điều kiện khí hậu nóng ẩm trung bình từ 22oC  đến 27oC, lượng mưa đạt 1500mm/năm. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh vào mùa xuân hè. Ở miền Bắc cây sẽ bị lụi tàn vào mùa Đông. Hàng năm cây có thể sinh thêm 6 đến 8 lá mới, và 3 đến 5 nhánh con. Sau 3 năm cây sẽ tạo thành khóm lớn, lên đến 20 nhánh ở các độ tuổi khác nhau

Ở Việt Nam cây chỉ ra hoa mà không đậu quả như ở Thái Lan và Ấn Độ nên không thu được hạt giống để trồng.

Trinh nữ hoàng cung ở Việt Nam được nhân giống bằng thân vào mùa xuân ở miền Bắc và đầu mùa mưa ở miền Nam. Chọn loại thân bánh tẻ, chưa ra hoa, không sau bệnh làm giống. Cây sẽ bắt đầu đẻ nhánh từ năm thứ 2 nên  tốc độ nhân giống tương đối chậm. Hiện nay đã có phương pháp nhân giống dòng vô tính bằng kỹ thuật nuôi cấy in-vitro.

Chọn đất trồng: Chọn loại đất thịt nhẹ hoặc trung bình, có khả năng giữ ẩm, đất cần cày bừa kỹ, để ải, bón lót cho mỗi ha từ 25 đến 30 tấn phân chuồng, 500kg supe lân, 300kg sulfat kali. Trộn đều phân với đất, đánh luống cao 25 đến 30cm, mặt luống rộng 0.8m. Trồng cây thành 2 hàng, mỗi hốc trồng 1 thân với khoảng cách 40x40cm. Cắt bỏ rễ, bớt lá, vùi đất vừa hết phần thân hành.

Thường xuyên làm cỏ,vun xới, tưới nước, giữ ẩm cho cây trồng Sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cho cây ngay trong thời kỳ đầu xuống giống sẽ giúp cung cấp đầy đủ lượng nước theo yêu cầu của cây đảm bảo cây không bị thừa hay thiếu nước.

Sau 40 đến 50 ngày sẽ bắt đầu bón thúc. Mỗi hecta dung 50kg ure pha loãng với nước. Nếu bà con đang dùng hệ thống tưới nhỏ giọt thì có thể kết hợp với thiết bị châm phân tự động để đưa phân hòa tan đến từng gốc cây một cách nhanh chóng và tiết kiệm.

Đến tháng 6, tháng 7 có thể bắt đầu thu hoạch lá, sau mỗi lần thu lá từ 25 đến 30 ngày lại bón thúc như trên. Thu lá bánh tẻ đến khi cây ngừng sinh trưởng.

Hàng năm khi cây chuẩn bị tăng trưởng trở lại cần bón thúc thêm phân, lượng bằng ½ lượng bón lót để duy trì độ phì và tơi xốp của đất

Có thể trồng xen một số loại cây họ đậu, kim tiền thảo hoặc Cam, Chanh, Quýt, Bưởi nhưng không được che bóng quá 30%.

MÔ HÌNH TƯỚI NHỎ GIỌT CHO HOA CÚC GIỐNG

Tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống đã trở thành lựa chọn của rất nhiều bà con nông dân, bởi đây là biện pháp rất tối ưu trong việc tiết kiệm nước, đáp ứng tưới đúng, tưới đủ lượng nước theo yêu cầu của cây trồng. Tiết kiệm thời gian. chi phí cho bà con.

Xin gửi đến bà con một số hình ảnh thực tế: Tưới hoa Cúc giống bằng dây tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống Green drip, khoảng cách 20cm/lỗ của hãng Seowon, Hản Quốc, Nhập khẩu và phân phối trực tiếp bởi Nhabe Agri. Mô hình này được áp dụng tại Ngọc Trì- Thành phố Hải Dương. Anh Chiến, chủ trang trại cho biết: Đã hơn 1 năm lắp đặt, hệ thống tưới hoạt động rất tốt, cho hiệu quả cao, và anh đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian cũng như tiết kiệm tiền thuê nhân công cho việc chăm sóc và tưới cây. Cây trồng tăng trưởng tốt, chất lượng cao.

THANH LONG VIỆT NAM CHÍNH THỨC ĐƯỢC PHÉP XUẤT KHẨU SANG NƯỚC ÚC

Sau trái Vải, được xuất khẩu sang thị trường Úc năm 2015, và trái Xoài năm 2016, ngày 24/8/2017 Thanh long tươi sẽ là trái cây tiếp theo được Bộ Nông Nghiệp và Tài nguyên nước Úc cho phép được nhập khẩu vào  thị  trường nước này. Đến thời điểm hiện tại Việt Nam là nước đầu tiên và duy nhất được cấp phép nhập khẩu Thanh long tươi vào Úc

Mùa vải năm 2016, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu được khoảng 30 tấn vải thiều vào thị trường Úc và năm nay dự tính đạt khoảng 100 tấn. Trong năm 2017, ngoài vải thiều, quả xoài của tỉnh Sơn La cũng sẽ được xử lý chiếu xạ để xuất khẩu sang Úc.

​Bộ Công Thương cho biết, để có thể xuất khẩu vào thị trường Úc, doanh nghiệp xuất khẩu phải đảm bảo hàng loạt các quy định khắt khe.

Cụ thể, trước khi nhập khẩu vào Úc, doanh nghiệp cần có giấy phép hợp lệ do Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước Úc cấp. Muốn có giấy phép, doanh nghiệp nhập khẩu cần nộp đơn xin phép nhập khẩu.

Là mặt hàng trái cây xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,năm 2016 với kim ngạch xuất khẩu Thanh long  đạt 895,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 50,3% trong xuất khẩu trái cây tươi và 36,1% trong tổng xuất khẩu rau quả của Việt Nam.

Thanh long tươi là một trong những mặt hàng nông nghiệp được ưu tiên hàng đầu để tiếp cận thị trường Úc. Úc cũng đang đẩy nhanh tiến độ xét duyệt cho các loại quả tươi khác của Việt Nam vào thị trường Úc.

Trước khi xuất khẩu, thanh long phải được Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam kiểm dịch và cấp giấy chứng nhận không bị nhiễm côn trùng trong diện kiểm soát an toàn sinh học (kiểm dịch). Thanh long phải có nguồn gốc, sản xuất và xuất khẩu từ Việt Nam phù hợp với các điều kiện và chương trình có liên quan.

Đáng lưu ý, thanh long tươi từ Việt Nam phải được xử lý trước khi vận chuyển hàng bằng phương pháp nhiệt hơi (VHT) với thời gian 40 phút ở nhiệt độ 46,5 độ C, độ ẩm 90% trở lên tại một cơ sở xử lý được Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam phê duyệt.

Hàng hoá phải không có côn trùng và bệnh dịch và không được lẫn các chất ô nhiễm, bao gồm lá cây, cành cây, đất, hạt cỏ dại, mảnh vụn và các loại thực vật khác trừ 1cm cuống của quả thanh long.

Bao bì phải được làm từ vật liệu tổng hợp hoặc vật liệu chế biến cao nếu có nguồn gốc thực vật. Bao bì không được làm bằng nguyên liệu thực vật chưa qua chế biến chẳng hạn như rơm.

Các thùng carton hoặc kiện hàng đơn lẻ phải được dán nhãn với một số nhận dạng duy nhất để thuận tiện cho việc truy xuất nguồn gốc. Kiện hàng phải được buộc chắc chắn.

Sản phẩm đã được xử lý phải được bảo vệ khỏi các côn trùng gây hại trong quá trình đóng gói và sau khi đóng gói, xử lý, lưu kho và vận chuyển giữa các địa điểm. Sản phẩm đã được kiểm tra và chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải được duy trì trong điều kiện an toàn để không bị lẫn với trái cây xuất khẩu đi các thị trường khác hoặc để tiêu thụ tại thị trường trong nước.

Container phải được kiểm tra bởi Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam trước khi xếp hàng để đảm bảo không có côn trùng và các lỗ thông hơi phải được phủ kín không cho côn trùng xâm nhập.

Bộ Nông nghiệp Úc có thể rà soát chính sách nhập khẩu bất cứ lúc nào sau khi thương mại bắt đầu hoặc khi tình trạng sâu bệnh và kiểm dịch thực vật tại Việt Nam bị thay đổi.

 Theo Phương Dung (Dantri)

HOA CÚC- HOA THỊNH VƯỢNG

Chúng ta thường thấy Hoa cúc xuất hiện trong bộ tranh Tứ quý: mai, trúc, cúc, tùng (xuân, hạ, thu, đông). Xuất phát từ văn hóa Nho giáo, bộ tranh này là biểu trưng cho người quân tử.

Hoa cúc với đặc điểm “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa” (lá không rời cành, hoa không rụng xuống đất) đã hàm ý tượng trưng cho khí tiết kiên trung của người quân tử.

Ngoài ra hoa cúc lại là biểu hiện của lòng hiếu thảo, sự thịnh vượng, thêm phúc, thêm lộc và niềm vui. Do vậy đây là loại hoa được dân ta rất ưa chuộng, nó xuất hiện hàng ngày trong mỗi gia đình, mỗi dịp lễ tết quan trọng.

Cúc là loại hoa có màu sắc phong phú, hình dáng đa dạng và đặc biệt rất lâu tàn, đến nay đã có trên thế giới đã có trên 1500 giống hoa cúc khác nhau, và ở Việt Nam có khoảng 70 loại.

Hoa Cúc thường được trồng và mùa xuân, vụ hoa bắt đầu vào tháng 8 âm lịch để phục vụ hoa vào dịp lễ tết.

Nhưng nhu cầu về loại  hoa này rất thường xuyên, nên hiên nay hoa có thể được trồng vào bất kỳ một thời điểm nào trong năm.

Việc nắm bắt được thời điểm xuống giống, cách chọn giống và khâu làm đất là yếu tố quan trọng cho sự sinh trưởng và phát triển của cây.

  1. Chọn giống: Chọn giống khỏe mạnh, độ cao đồng đều từ 4-5cm, rễ dài 1-2cm, cây to khỏe, lá xanh, không sâu bệnh.
  2. Đất: đất tơi xốp, thoáng, dễ thoát nước. Nên bón lót 15 đến 20 ngày trước khi trồng cây. Bón phân chuồng để cải tạo đất, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho đất.
  3. Hoa cúc là loại cây háo nước, ưa sống ẩm nên việc tưới nước phải thường xuyên và đảm bảo đủ nước. Đặc biệt, khoảng 7 – 10 ngày, bà con lại tưới nước vào rãnh để nước ngập 2/3 rảnh trong khoảng 1-2 giờ. Sau đó thì tháo nước để tránh bị úng, còn tưới mặt thì phải làm thường xuyên, không được để mặt luống khô nước. Ngoài các biện pháp tưới thủ công bà con còn có thể áp dụng các biện pháp tưới hiện đại như tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống, với phương pháp tưới này bà con có thể chủ động được lưu lượng cũng như thời gian tưới, đảm bảo được lượng nước thích hợp cho cây, lại tiết kiệm nước, cũng như nguồn nhân công phục vụ cho việc tưới cây
  4. Muốn cây ra nhiều hoa phải tiến hành bấm ngọn, bỏ đi 1-2 búp trên thân cây chính, chỉ bấm 1 lần, để lại 3-4 cành, mỗi cành 1 bông. Thường xuyên tỉa bỏ những cành, nụ không cần thiết, đảm bảo vệ sinh luống hoa luôn sạch sẽ, loại bỏ lá úa, thối để tránh cây bị mắc bệnh nấm rệp.
  5. Làm cọc đỡ cho cây khi cây cao từ 35-45cm để cảm bảo cây mọc thẳng, đều đẹp
  6. Đến thời điểm thu hoạch nên bón dung dịch phân lân và kali ở nồng độ thấp trước đó 7 đến 10 ngày, đồng thời phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, Thu hoạch hoa lúc sáng sớm và chiều mát.

Hy vọng bài viết sẽ giúp cho bà con có thêm những kiến thức trong việc trồng hoa Cúc, loài hoa của Thịnh vượng.

CÂY ĐINH LĂNG, VỊ THUỐC QUÝ

Cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa) thuộc họ Ngũ gia bì là loài cây này là một loại dược liệu quý bởi con người có thể sử dụng được toàn bộ cây từ rễ, củ, cành và lá để làm thuốc trị bệnh, bồi bổ sức khoẻ và làm gia vị cho các món ăn.

Đinh lăng thuộc loại cây nhỏ, cao khoảng 0,8-1,5m, thường được trồng làm cây cảnh trước nhà hoặc chùa, miếu. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành tán. Quả dẹt, dài 3-4mm, dày khoảng 1mm. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian gọi nôm na là mùi “thuốc bắc”. Lá tươi không có mùi thơm này.

Đinh lăng là cây sống nhiều năm, ưa ẩm, ưa sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng nhưng không chịu úng ngập. Cây có biên độ sinh thái rộng, phân bố trên khắp các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát, và phát triển tốt nhất ở nhiệt độ dưới 25 độC

Trong dân gian Đinh lăng đước chia thành 2 loại: Đinh lăng nếp và đinh lăng tẻ

Đinh lăng nếp là loại lá nhỏ, xoăn, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ bì dày cho năng suất cao và chất lượng tốt, đây là loại hay được chọn để làm giống.

Đinh lăng tẻ là loại lá sẻ thùy to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít và cứng, vỏ bì mỏng, năng suất thấp. Loại này bà con không nên trồng.

Chuẩn bị trồng

Đinh lăng là loại cây không ưa đọng nước, phát triển tốt ở vùng đất pha cát, tơi xốp, có độ ẩm trung bình. Khi trồng đại trà, diện rộng, bà con phải cày bừa làm đất tơi, lên luống cao 20cm, rộng 50cm. Nếu ở vùng đồi, người trồng phải cuốc hốc sâu 20cm, đường kính hố 40cm. Đinh lăng trồng bằng cách giâm cành và có thể trồng được cả bốn mùa nhưng tốt nhất là giữa xuân.

Thời vụ: Bà con nên trồng vào mùa xuân, từ tháng 1-4. Vào mùa hè, cây được trồng cần phải giâm hom giống 20-25 ngày cho ra rễ mới đem trồng. Người trồng có thể giâm cành bằng cách đem hom cắm xuống đống cát để trong bóng mát, khoảng cách trồng: 40 x 50 cm hoặc 50×50 cm. Mật độ của cây là khoảng 40.000 đến 50.000 cây/ha.

Phân bón và kỹ thuật bón phân

Bón lót: Mỗi hecta, bà con nên bón lót 10- 15 tấn phân chuồng, 400- 500 kg phân NPK, bón toàn bộ lượng phân lót, tránh bón sát và hôm giống.

Bón thúc: Ở năm đầu, vào tháng 6 sau khi trồng, cây cần được bón thúc 8kg urê/sào bằng cách rắc vào má luống rồi lấp kín. Cuối năm thứ 2, vào tháng 9 sau đợt tỉa cành, cây nên được bón thêm phân chuồng 6 tấn/ha và 300 kg NPK+100 kg kali. Ngoài ra bà con cần bón thúc vào mùa thu, vun đất phủ kín phân bón để cây có điều kiện phát triển mạnh vào năm sau

Kỹ thuật trồng

Bà con đặt hom giống cách nhau 50cm, đặt nghiêng hom theo chiều luống, giữa các hom bón lót bằng phân chuồng 4kg/sào và 20kg phân NPK (tránh bỏ phân sát hom giống), sau đó lấp hom, để hở đầu hom trên mặt đất 5cm. Khi trồng xong, bà con nên phủ rơm rạ hoặc bèo tây lên mặt luống để giữ độ ẩm và tạo mùn cho đất tơi xốp. Nếu đất khô, bà con phải bơm nước ngập 2/3 luống hoặc tưới nước đảm bảo độ ẩm cho đất trong vòng 25 ngày nhưng không được để ngập nước, nếu trời mưa liên tục phải thoát nước ngay để tránh thối hom giống. Có hai cách trồng. Hoặc bà con có thể sử dụng các phương pháp tưới nhỏ giọt để vừa đảm bảo được lượng nước cho cây, vừa không để có hiện tượng ngập úng.

Một là kết hợp làm cảnh và thu dược liệu: Người dân có thể trồng thành từng hốc hoặc từng hàng thẳng tắp hoặc theo hình dáng tuỳ thích (hình thoi, vòng tròn, vòng ô voan…)

Trồng từng hốc: Người trồng đào hốc có đường kính 1m, sâu 35-40cm, lót đáy hố bằng miếng PE hay nilon cũ (để rễ cây tập trung trong hố, khi thu hoạch sẽ lấy gọn cả bộ rễ một cách dễ dàng). Sau đó, người dân trộn đất với phân chuồng hoai mục (10kg) cho đầy hố, nén đất xuống rồi trồng cây đã ươm vào, ba cây một hố theo hình tam giác đều, cây cách cây 50cm. Cây cần được tưới nước và ấn chặt đất xung quanh gốc, người chăm nên vun đất tạo thành vồng có rãnh thoát nước xung quanh. Nếu có, bèo tây ủ vào gốc để giữ ẩm là tốt nhất. Bà con cũng có thể sử dụng biện pháp tưới nhỏ giọt cho cây để đảm bảo được độ ẩm cho đất cho rễ, tránh tình trạng tưới quá nhiều ngập ngập úng, làm chết cây.

Trồng theo hàng thẳng hoặc tạo hình dáng: Bước đầu tiên là bà con đào băng rộng 40cm, sâu 35-40cm,  lót nilon cũ hoặc PE cũ xuống đáy và trồng cây như trên (không đặt cây theo hình tam giác đều mà chỉnh theo hàng thẳng hoặc hình dáng định trồng).

Hai là trồng trên diện tích lớn: Bà con cần làm luống rộng 60cm, cao 35-40cm, bổ hốc thành hai hàng lệch nhau, cây cách cây 50cm. Bước tiếp theo là bà con cho phân hoai mục xuống, lấp đất mỏng, đặt cây đã ươm  vào trồng, tưới nước rồi ấn chặt đất quanh gốc. Nếu cây được trồng trên đất dốc, người trồng phải làm luống theo đường đồng mức để tránh trôi màu, hạn chế thoát nước nhanh sau khi mưa. Với địa hình đồi dốc thì biện pháp tưới nhỏ giọt bằng dây bù áp là rất phù hợp, đảm bảo lượng nước đồng đều ở các độ cao khác nhau.

Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh

Đinh lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn, ít sâu bệnh. Hầu như không cần sử dụng thuốc BVTV. Từ năm thứ 2 trở đi, người chăm cần tỉa bớt lá và cành, mỗi năm 2 đợt vào tháng 4 và tháng 9. Mỗi gốc chỉ nên để 1-2 cành to.

Đinh Lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn và ít bị sâu bệnh hại. Giai đoạn đầu mới trồng, cây thường bị sâu xám cắt lá mầm và ăn vỏ thân, giai đoạn cây phát triển mạnh hầu như không bị sâu hại.

Trong giai đoạn đầu, bà con cần chú ý phòng từ kịp thời tránh ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây. Người chăm bón có thể dùng thuốc hoặc bắt sâu bằng tay vào sáng sớm hoặc chiều muộn. Ngoài ra, bà con có thể dùng một số loại thuốc phòng trừ sâu xám như sau: Dùng thuốc đơn TP-Pentin 18EC, Basudin 50EC; Shecpain 36EC, Gottoc 250EC hoặc phối hợp hai loại thuốc khác nhau: Diptere 80WP + Karate 2,5EC, Sevin 40% + Sherpa 25EC, Ganoi 95SP + Abamectin 36EC, Regent 800WG + Sokupi 0,36AS… hoặc dùng một trong các loại thuốc sâu dạng hạt, bột như: Basudin 10H, Vibasu 10G, Furadan 3G, Regent 3G… trộn một phần thuốc với 10 phần đất bột khô rắc vào quanh gốc cây khi cấy trồng có tác dụng phòng trừ sâu xám rất tốt.

Thu hái, chế biến, bảo quản

Lá: Khi chăm sóc, người trồng cần tỉa bớt lá chỗ quá dầy. Khi thu vỏ rễ, vỏ thân , người thu nên thu hoạch lá trước, sau đó mới chọn hom giống. Lá thu được đem hong gió cho khô là tốt nhất (âm can), cuối cùng sấy cho thật khô.

Vỏ rễ, vỏ thân: Người nông dân có thể thu hoạch vào cuối thu năm thứ 2 (cây trồng 5 năm có năng suất vỏ rễ vỏ thân cao nhất). Rễ và thân câycần được rửa sạch đất cát, cắt rời rễ lớn, hong gió một ngày cho ráo nước (giúp bóc vỏ dễ hơn) để riêng từng loại vỏ thân, vỏ rễ sau khi bóc. Rễ nhỏ có đường kính dưới 10mm không nên bóc vỏ, loại đường kính dưới 5mm nên để riêng. Rễ cần được phơi, sấy liên tục đến khi khô giòn.

Phân loại: Loại I là vỏ, rễ cây loại có đường kính (lúc tươi) từ 10mm trở lên. Loại II là vỏ thân và vỏ rễ có đường kính dưới 10mm (vỏ thân gần gốc dày trên 2mm). Loại III là các loại rễ và vỏ thân mỏng dưới 2mm.

Sưu tầm

TƯỚI CÀ PHÊ, TƯỚI THẾ NÀO LÀ ĐỦ?

Kỹ thuật tưới nước cho cây cà phê

Tưới nước ít hơn vẫn bảo đảm năng suất, Nhận định này của giới khoa học đã đặc biệt thu hút sự quan tâm của bà con nông dân trồng cà phê. Đặc biệt khi những tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đang ảnh hưởng không nhỏ đến sự sụt giảm của mực nước ngầm phục vụ tưới tiêu cho cây trồng.

40% sản lượng cà phê ở Việt Nam là ở Đăklak. Tai đây việc đáp ứng được đủ nước tưới cho cây cà phê từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm rất quan trọng. Người trồng cà phê thường tưới gấp đôi lượng nước được khuyến cáo, tuy nhiên, không phải tưởi nhiều là đem lại hiệu quả, bởi đi kèm theo nó là các chị phí về nhân công, thiết bị, nhiên liệu.

Theo Tổ chức Nông Lương liên hợp quốc thì tổng lượng nước cần thiết cho cây cà phê hàng năm là: 1.388mm. Trong đó mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4 là 529mm, nhưng thời điểm này lượng mưa chỉ đạt 113mm, lượng nước còn thiếu chủ yếu là từ nguồn nước ngầm. Đây là 1 thách thức lớn khi nguồn tài nguyên này ngày càng kiệt quệ

Hiện nông dân vẫn sử dụng lượng nước tưới nhiều hơn khuyến cáo, trong khi theo các chuyên gia tưới nước ít hơn vẫn có thể bảo đảm năng suất cho cà phê.

Các thử nghiệm thực tế trong những điều kiện thích hợp đã chứng minh rằng: tưới nước ít hơn 40% so với lượng nước được khuyến cáo sẽ không làm giảm năng suất cà phê. Thậm chí mức độ ức chế về nước cao hơn vẫn đem lại hiệu quả bởi mức độ ức chế sẽ kích thích cho cây ra hoa và đậu quả.

Do vậy cần phải có lịch tưới tối ưu. Ví dụ với lượng mưa trung bình trong tháng 11, tháng 12 năm trước, chỉ cần khoảng 150 mm nước tưới cho cà phê trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 là đủ (tương đương 455 lít/cây/lần tưới x 3 lần). Nếu các tháng 11, tháng 12 năm trước có lượng mưa lớn, chỉ cần 80-120 mm nước tưới cho cà phê là đủ (tương đương 300 lít/cây/lần tưới x 3 lần). Một điều tra cho thấy hơn 50% nông dân tưới nhiều nước hơn lượng nước tối ưu nói trên, năng suất thu được lại thấp hơn, trung bình 2,4 tấn/ha, trong khi những nông dân tuân thủ cách tưới tối ưu vẫn đạt năng suất 3-4 tấn/ha.

Trước thực trạng sự sụt giảm tài nguyên nước đến mức báo động, cùng với việc thực hiện đồng bộ các biện pháp khác như kiên cố hóa kênh mương, tăng cường lượng phân bón hữu cơ…, việc nâng cao nhận thức của nông dân về sử dụng nước bền vững trong sản xuất cà phê là điều cần thiết. Thêm vào đó việc tiếp cận các phương pháp tưới hiện đại sẽ giúp ích cho bà con rất nhiều. Việc lắp các hệ thống tưới tự động sẽ giúp cho bà con tiết kiệm được nhân công sức lao động, tiết kiệm nước, giảm thiểu các chi phí chăm sóc.

 

CÀ GAI LEO- HƯỚNG DẪN TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ THU HOẠCH

Hiện nay cà gai leo được xem là cây thuốc nam có tác dụng giải độc gan tốt nhất, đặc biệt là đối với bệnh viêm gan virus. Rễ là bộ phận có chứa nhiều ancaloit, glycoancaloit giúp giải rượu tốt, ngăn chặn quá trình xơ gan.

Trước đây Cà gai leo là loại cây dại, mọc hoang ở khắp nơi trên đất nước ta, từ Bắc vào Nam. Đến nay lượng cà gai leo mọc trong tự nhiên đã bị khai  thác cạn kiệt, do vậy cây cà gai leo hiên nay đang được trồng thành các khu dược liệu, được bà con quan tâm và biến thành một loại cây kinh tế vừa ích nước vừa lợi nhà.

Để đạt được năng suất cao khi trồng loại cây này bà con lưu ý một số điểm sau:

Chọn đất: Đủ ánh sáng, độ ẩm, đất tơi xốp, gần nguồn nước  tưới

Chọn giống: Phải đảm bảo được nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, tránh nhầm lẫn với loại cây cà dại, có thể trồng từ hạt, hoặc mua hom giống từ các cơ sở giống cây trồng có uy tín.

Nếu trồng từ hạt, phải chọn quả giống già , to, có màu đỏ chín mọng, phơi khô, tách lấy hạt và ngâm nước trong vòng 15’, lạo bỏ những hạt nổi trên mặt nước vì đó là hạt lép

Thời gian trồng với Miền Bắc là mùa Xuân, Miền Nam là vào mùa mưa. Nên trồng theo khoảng cách hàng cách hàng 50cm, cây cách cây 50cm.

Yếu tố quyết định năng suất cây cà gai leo chính là quy trình trồng và chăm sóc cho cây, do vậy thời điểm, quá trình bón phân và thu hoạch là rất quan trọng.

Việc bón phân cho cây cà leo chỉ nên sử dụng phân chuồng, phân vi sinh, sử dụng phân hóa học sẽ ảnh hưởng đến khả năng chống sau bệnh của cây. Phân được trộn với đất khi bắt đầu xuống giống, sau khi cây được 2 tháng, tiếp tục bón thúc cho cây, kích thích cây ra rễ, nhưng lần này bón với lượng ít hơn, không bón trực tiếp vào rễ mà cách xa một chút để tránh làm xót rễ, chết cây.

Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Để đảm bảo lượng nước thích hợp bà con có  thể sử dụng biện pháp tưới nhỏ giọt chạy dọc theo luống, bằng phương pháp này nước sẽ được đưa trực tiếp vào gốc cây theo đúng liều lượng quy định, không bị lãng phí nước, không gây úng rễ, hạn chế cỏ dại, và một năm xới gốc 2-3 lần.

Trong cây dược liệu điều được quan tâm nhất chính là hoạt chất có trong cây. Đối với cây cà gai leo hai hoạt chất quan trọng nhất là: Ancaloit và glycoancaloit, đây là hoạt chất rất quan trọng để chiết xuất dược liệu do vậy việc thu hoạch đúng thời điểm sẽ giúp thu được hoạt chất đạt kết quả cao nhất.

Với cây mới trồng thì thời gian thu hoạch là khoảng sau 6 tháng, khi thấy cây có lá gốc hơi vàng, cây chuẩn bị ra hoa, đây là thời điểm hoạt chất trong cây cao nhất.

Với các lần cắt sau sẽ dao động từ 3-4 tháng, bà con có thể xem xét các biểu hiện trên cây để xác định thời điểm thu hoạch hợp lý.

Rất mong bài viết này có thể giúp bà con có thêm những kiến thức hữu íc về cây cà gai leo.