Author Archives: Phan Thuỳ Linh

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 1: chọn trụ tiêu.

Trụ tiêu là cây chống đỡ để tiêu bám vào đó trong suốt đời sống. Có 2 loại trụ tiêu là trụ sống và trụ chết.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

1.Trụ sống: Là cây đang sống để cho tiêu bám vào. Dùng cây sống làm trụ tiêu có ưu điểm là dễ kiếm và dễ nhân giống bằng hạt, bằng cành, che bóng một phần cho tiêu còn nhỏ, lá cây rụng xuống giúp tăng chất hữu cơ cho đất. Nhược điểm là cạnh tranh một phần nước và chất dinh dưỡng của cây tiêu, hằng năm tốn công xén tỉa, mật độ trồng tiêu thường thưa, cây trụ sống có thể là nơi ẩn náu, lan truyền sâu bệnh.

Cách khắc phục nhược điểm: Cây dùng làm trụ sống phải có cọc ăn sâu để bớt cạnh tranh dinh dưỡng và nước, có tuổi thọ dài (trên 30 năm), vỏ nhám và không bị tróc, ít bị sâu bệnh hại, sinh trưởng nhanh, khả năng chống chịu hạn úng tốt. Nếu được cây họ đậu thì càng tốt vì sẽ làm cho đất màu mỡ thêm.

Những cây thường dùng làm trụ sống cho tiêu: cây anh đào giả, cây bình linh, cây vông nem, cây lồng mức, cây muồng xiêm… Ngoài ra cũng có thể dùng một số cây khác như keo ấn độ, muồng đen, cối rừng, cây gòn và các cây ăn quả như mít, xoài, cau, dừa, cây dâu tằm…

Lưu ý khi trồng tiêu bằng trụ sống:

-Phải trồng cây trụ sống trước khi trồng tiêu 1-2 năm.

-Sau khi trồng được 2-3 năm phải tỉa cành lá, cho thân thẳng, khi cây cao khoảng 4m thì phải chặt ngọn để tạo tán.

-Hằng năm trong mùa mưa tỉa bớt tán lá cho vườn thông thoáng, mùa khô nắng để cây ra lá cho có bóng râm.

-Khi trồng tiêu với trụ sống phải trồng xa trụ trên 0.5m, với dừa phải trồng xa 2m để không bị rễ dừa cạnh tranh.

Hiện nay trồng tiêu với trụ sống là phương pháp được khuyến khích hơn để bảo vệ rừng và môi trường sống.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

2.Trụ chết: trụ chết có thể là cây gỗ, trụ xây gạch hoặc trụ xi măng. Ưu điểm khi dùng trụ chết là không cạnh tranh dinh dưỡng với tiêu, không cần trồng trước lâu, nếu là trụ gạch haowjc xi măng thì rất bền, có thể tồn tại suốt đời sống cây tiêu. Nhược điểm là chi phí đầu tư lớn, trụ gạch hoặc xi măng toả nhiệt mạnh làm tổn thương rễ bám của tiêu, phải che tủ ở trên để có bóng râm, nếu là cây gỗ chết loại xấu thì dễ bị mối mọt làm hư hỏng, gỗ tốt thì rất khó tìm.

Lưu ý khi trồng tiêu bằng trụ chết:

– Trụ gỗ:

+ Phải là trụ bền chắc, không bị mối mọt và nấm để đảm bảo cho suốt đời sống của cây tiêu (20-30 năm).

+ Trụ phải cao từ 3,5 – 4 m, đường kính trên 15cm, chôn sâu xuống đất 0,6-1m. Lỗ chôn nên xử lý thuốc trừ mối, để cây trụ thêm vững chắc dùng dây thép nối các đầu cây trụ lại với nhau.

+ Các cây thương dùng làm trụ chết: căm xe, cà chắc, cà đuối, tàu láu, sầu đâu…Ở Phú Quốc thường dùng lõi cây thanh trà, ở U Minh dùng cây cóc rừng làm trụ tiêu cũng tốt.

-Trụ xây gạch:

+ Trụ xây hình vuông hoặc hình tròn, cao 3,5 – 4 m, đường kính đáy 0,8-1,2m, đường kính chóp 0,5-0,8m, có hình tháp, móng sâu xuống đất khoảng 0,5m. Ruột tháp rỗng, xung quanh tháp xếp gạch thành các lỗ hỏng.

+ Có thể đổ trong ruột tháp phân chuông ủ hoai để cung cấp thêm dinh dưỡng, giữ ẩm và điều hào nhiệt độ cho trụ tiêu.

-Trụ bằng xi măng: Cột xi măng, lõi thép hình vuông, mỗi cạnh 12-15cm, cao 3-4m.

Cần chú ý: Trụ bằng gạch hoặc xi măng khi cây tiêu chưa che phủ hết thì hút nhiệt rất mạnh, nhiệt độ bề mặt trụ có thể lên tới 50-60°C sẽ ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây. Vì vậy thời gian đầu, khi cây còn nhỏ cần được che chắn, tưới nước, bón phân đầy đủ.

Trường hợp chưa kịp chuẩn bị trụ chính bạn có thể chuẩn bị trụ tạm cho cây bò lên. Trụ tạm có thể là trụ bằng gỗ không tốt lắm, sử dụng được 1-2 năm rồi thay trụ chính.

Sau khi đã chọn được trụ tiêu bược tiếp theo là chuẩn bị đất trồng tiêu bao gồm các công đoạn như thiết kế vườn tiêu, làm đất, đào hố, lắp mô trồng…. Quy trình chuẩn bị đất trồng này sẽ được chia sẻ trong bài viết tiếp theo: Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 1: chuẩn bị đất trồng.

(Tài liệu tổng hợp theo sách Bác sĩ cây trồng, KS.Nguyễn Mạnh Chinh-TS. Nguyễn Đăng Nghĩa)

 

Nhu cầu nước qua từng giai đoạn của cây khoai lang

Nhu cầu nước qua từng giai đoạn của cây khoai lang

Khoai lang là một cây hoa màu trồng cạn, thời gian sinh trưởng ngắn (3 – 5 tháng) nhưng trong quá trình sinh trưởng phát triển khoai lang đã tổng hợp được một lượng vật chất hữu cơ khá lớn. Đó là nhờ khoai lang đã sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời tổng hợp CO2 và NH2 tạo nên chất hữu cơ – nguyên liệu để tạo ra các bộ phận của cây khoai lang cũng như tất cả các vật chất dự trữ vào củ.

Như vậy nước đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây khoai lang. Lượng mưa thích hợp nhất đối với khoai lang từ 750 – 1000mm/năm, khoảng xấp xỉ 500mm trong cả vụ trồng.

Mặc dù độ ẩm thích hợp cho khoai lang nói chung là khoảng 70 – 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng, nhưng nhu cầu về nước đối với khoai lang qua từng thời kỳ sinh trưởng phát triển cũng có khác nhau. Nhu cầu nước của khoai lang có thể chia ra làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn đầu (từ trồng đến kết thúc thời kỳ phân cành kết củ): nhu cầu nước của khoai lang còn thấp nên độ ẩm đất chỉ cần đảm bảo 65 – 75% độ ẩm tối đa đồng ruộng nhưng lại là giai đoạn quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới quá trình hình thành củ, quyết định số củ trên 1 cây khoai lang. Tuy nhiên nếu độ ẩm đất quá cao (90 – 100%) thì có lợi cho quá trình mọc mầm ra rễ, song lại ảnh hưởng không tốt tới sự phân hoá hình thành củ làm giảm số lượng củ trên 1 dây khoai lang. Lượng nước cần trong giai đoạn này thấp khoảng 15 – 20% tổng lượng nước cần trong suốt thời kỳ sinh trưởng phát triển bởi vào lúc này sinh trưởng của cây khoai lang tăng chậm, nhất là bộ phận trên mặt đất. Kết hợp với giai đoạn này cây khoai lang có khả năng chịu hạn khá.

Giai đoạn thứ hai: (chủ yếu là giai đoạn thân lá phát triển): Từ sau khi kết thúc thời kỳ phân cành kết củ, số củ hữu hiệu đã ổn định, cây khoai lang bước vào thời kỳ sinh trưởng mạnh của bộ phận trên mặt đất, số lá và diện tích lá tăng, cành cấp 1, 2, 3 phát triển mạnh tạo nên một lượng sinh khối lớn – Lúc này củ cũng bước vào giai đoạn phát triển nhưng với tốc độ chậm. Để tạo nên được lượng sinh khối lớn cây khoai lang cần rất nhiều nước. Lượng nước cần tăng dần từ đầu cho đến khi thân lá đạt đến trị số tối đa. Lượng nước cần cho giai đoạn này chiếm cao nhất. Khoảng 50 – 60% tổng lượng nước cần trong suốt thời kỳ sinh trưởng. Tuy nhiên để cho luống khoai có đủ độ thoáng khí, độ ẩm đất cũng chỉ cần đảm bảo 70 – 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Đây là giai đoạn cây khoai lang cần được cung cấp đầy đủ nước. Trong sản xuất tưới vào giai đoạn này hiệu quả tăng năng suất rất rõ, nhất là trong điều kiện thời vụ nào gặp hạn thời tiết khô hanh (vụ Đông ở miền Bắc Việt Nam). Và phương pháp tưới nhỏ giọt cho cây khoai lang hiện nay đang là phương pháp tưới tối ưu mang lại hiệu quả cũng năng suất cao cho khoai lang. Mô hình tưới nhỏ giọt này đã được ứng dụng nhiều tại các tỉnh Tây Nguyên như Đăk Lak, Gia Lai…

Mô hình tưới nhỏ giọt trên 15ha khoai lang tại Đăk Lăk

Mô hình tưới nhỏ giọt trên 15ha khoai lang tại Đăk Lăk

Giai đoạn thứ ba: Sau khi thân lá đạt tới đỉnh cao nhất, giảm xuống từ từ cho đến khi thu hoạch bộ phận trên mặt đất về cơ bản hầu như ngừng sinh trưởng và giảm sút. Quá trình phát triển tập trung chủ yếu vào sự vận chuyển tích luỹ vật chất hữu cơ từ thân lá vào củ. Tốc độ lớn của củ tăng nhanh, nhất là vào thời điểm trước khi thu hoạch khoảng 1 tháng; cung cấp nước vào lúc này không có tác dụng xúc tiến sự phát triển thân lá mà chính để phục vụ quá trình vận chuyển tích luỹ vật chất đồng hoá vào củ. Do đó lượng nước cần vào giai đoạn này đã bắt đầu giảm xuống, chỉ khoảng trên dưới 20% tổng lượng nước cần trong suốt thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây khoai lang. Tuy nhiên để củ phát triển thuận lợi cũng cần đảm bảo độ ẩm đất 70 – 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Trong sản xuất thường người ta ít tưới vào giai đoạn này bởi giai đoạn này nếu độ ẩm trong đất quá cao hoặc gặp trời mưa củ khoai lang rất dễ bị thối.

Cung cấp nước cho khoai lang là một biện pháp kỹ thuật trong thâm canh tăng năng suất khoai lang. Song phải cung cấp một cách hợp lý trên cơ sở dựa vào nhu cầu nước qua từng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây khoai lang kết hợp với việc xác định độ ẩm đất trên đồng ruộng. Nói một cách khác trong sản xuất cần dựa vào các thời vụ trồng cụ thể (vụ Đông Xuân, vụ Đông, và vụ Hè Thu) để có chế độ tưới cụ thể về cả lượng nước tưới, thời kỳ tưới và phương pháp tưới thích hợp.

 

Nguồn: Giáo trình cây khoai lang – Trường đại học nông lâm Thái Nguyên

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2017, cả nước xuất khẩu 126.000 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 750 triệu USD, tăng 18% về lượng nhưng giảm 16% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Theo nhận định của Hiệp hội, nhu cầu sử dụng hồ tiêu thế giới ngày càng tăng mạnh, mục tiêu xuất khẩu 180.000 tấn hồ tiêu trong năm 2017 là điều dễ dàng thực hiện.

Hiện nay giá hồ tiêu xuất khẩu trung bình ở mức 90.000 đồng/kg và vẫn còn tiếp tục nhích lên do nhu cầu của nhà nhập khẩu thế giới. Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), hiện nay sản lượng hồ tiêu Việt Nam, cũng như lượng hồ tiêu xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam chiếm 60% nhu cầu của khách hàng khắp thế giới. Không những vậy, sản phẩm tiêu sạch của Việt Nam vẫn đang là nguồn hàng được ưa chuộng của các khách hàng khó tính như thị trường Mỹ, Đức, châu Âu, Nhật Bản,…

Theo ông Nguyễn Ngọc Luân, Giám đốc Hợp tác xã Hồ tiêu Lâm Sang (Đồng Nai), trong 6 tháng đầu năm 2017, hợp tác xã đã xuất khẩu 300 tấn tiêu sạch, đạt tiêu chuẩn của thị trường Đức và châu Âu, gấp đôi số lượng so với cùng kì năm ngoái. Nhu cầu của thị trường khó tính này còn rất lớn, họ sẵn sàng đặt hàng với Hợp tác xã  5.000 tấn tiêu mỗi năm, nhưng khả năng sản xuất hiện nay để đáp ứng được tiêu chí chất lượng vẫn còn rất ít.

Thậm chí vừa qua, để đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới về tiêu sạch, Việt Nam đã phải nhập khẩu hơn 20.000 tấn tiêu sạch từ Campuchia về chế biến xuất theo đơn đặt hàng của nhà nhập khẩu.

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Thêm một điều đáng mừng nữa là: Việt Nam đang là nước đứng đầu trong các nước xuất khẩu hồ tiêu vào Pakistan. Pakistan là nước có nhu cầu tiêu thụ hạt tiêu cao và ổn định trong khi không trồng được hạt tiêu nên phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu:

Năm 2016, tổng nhập khẩu tiêu của Pakistan là 11 nghìn tấn, trị giá gần 44 triệu USD. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu 8,8 nghìn tấn, trị giá hơn 36 triệu USD, chiếm 80% thị trường. Pakistan đứng thứ 7 trong các thị trường xuất khẩu tiêu của Việt Nam, chiếm 6% lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam.

Tuy nhiên để có chất lượng tiêu tốt không là điều đơn giản, nó phải được sự cân bằng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố như giống cây trồng, phòng, chống dịch bệnh trên cây tiêu một cách an toàn, các yếu tố về phân bón, tưới nước cho cây tiêu…

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Theo đó, ngành Nông nghiệp các  tỉnh khu vực Tây Nguyên, tiêu biểu là Đăk Nông đã khuyến khích người dân phát triển cây hồ tiêu ở các quy mô vườn gia đình, trang trại, nông, lâm kết hợp… Đồng thời, việc hướng dẫn nông dân trồng tiêu trên trụ bằng cây sống hay xây trụ bê tông, gạch để làm trụ tiêu, hạn chế khai thác cây rừng cũng được các địa phương, cơ quan chuyên môn thường xuyên tổ chức triển khai.  Cũng như để hạn chế tình trạng dịch bệnh đang diễn ra tại các vườn tiêu, việc ứng dụng các biện pháp trồng xen canh, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học, tưới nước nhỏ giọt… ngày càng được người dân quan tâm, ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Nhu cầu nước của cây bơ t

Nhu cầu nước tưới của cây bơ

Bơ là loại quả có hàm lượng dinh dưỡng cao, ở vùng Tây Nguyên cây bơ cũng là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao. Nhưng để đạt được năng suất cũng như chất lượng quả tốt nhất người trồng bơ phải hiểu rõ hết các đặc tính kỹ thuật của cây bơ, có phương pháp chăm sóc chính xác ngay từ đầu để đảm bảo bơ cho năng suất cao khi thu hoạch. Một trong các đặc tính góp phần quan trọng vào việc quyết định năng suất của cây bơ là yếu tố nước tưới cho cây bơ. Tại Ấn Độ, giai đoạn bơ lớn lên, bộ rễ bơ đã phát triển người trồng bơ tưới bơ với lưu lượng 150 lít/cây/lần tưới với chu kỳ tưới 15 ngày suốt từ từ tháng 1 đến tháng 3 đã làm tăng 68% năng suất bơ.

Nhu cầu nước của cây bơ tương đối lớn. Chế độ nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển và năng suất, chất lượng của quả Bơ. Nhu cầu nước của cây Bơ thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt, thời vụ gieo trồng, giống và từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây. Việc cung cấp nước đủ và đúng cho cây bơ rất quan trọng trong việc giúp kích thích cây ra bông trổ hoa nhanh hơn vì nếu như không tưới nụ sẽ bị sượng hoặc là hoa sẽ trổ không đồng đều. Việc tưới nước cũng sẽ giúp hạn chế việc rụng trái non về sau này. Lưu lượng tưới cụ thể:

– Năm thứ nhất đến thứ 3 sau trồng: 50 – 100 lít nước cây lần; tưới 2 – 3 lần vào giữa và cuối mùa khô.

– Khi cây cho quả: 100 – 200 lít cây lần; tưới 2 – 3 lần từ sau khi hoa bắt đầu nở.

Cần lưu ý thêm giai đoạn năm thứ 2: Là lúc cây bơ đã lớn lên đáng kể, bộ rễ đã ăn sâu nhưng vẫn phải thường xuyên tưới bổ sung trong mùa khô, thường khoảng 4-5 đợt, mỗi đợt cách nhau 15-20 ngày.

Với nhu cầu nước tưới vừa bàn trên của cây bơ, việc áp dụng mô hình tưới tự động cho vườn bơ là phương pháp tối ưu giúp tiết kiệm được nhân công, chi phí mà vẫn đảm bảo được năng suất trồng. Hiện nay đã có rất nhiều mô hình ứng dụng thành công hệ thống tưới tự động cho các loại cây trồng nói chung và cây bơ nói riêng của bà con Tây Nguyên mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một số phương pháp tưới tự động phổ biến, đạt hiệu quả cao cho cây bơ như:

Tưới nhỏ giọt bằng hình thức sử dụng dây tưới nhỏ giọt cuốn quanh gốc. Hình thức nhỏ giọt quanh gốc này rất tiết kiệm nước, tiết kiệm chi phí bón phân vì có thể kết hợp châm phân tự động, tưới nhỏ giọt cũng giúp hạn chế cỏ dại, mầm bệnh đồng thời cũng không đòi hỏi áp suất cao.

tưới nhỏ giọt đáp ứng tốt nhu cầu nước tưới của cây bơ

  • Tưới phun mưa tại gốc: Phương pháp này sử dụng các loại béc tưới phun tại gốc bơ.

Nhu cầu nước của cây bơ t

Chuyện ông Miên: Áp dụng tưới nhỏ giọt, mía tăng năng suất gấp đôi!

Chuyện ông Miên: Áp dụng tưới nhỏ giọt, mía tăng năng suất gấp đôi!

Dân Sơn Nguyên vẫn còn truyền tụng, cách đây hơn 30 năm, ông Miên lập nghiệp bằng chiếc rựa cùn và mấy con gà. Vốn là công nhân cơ khí ở Bắc Ninh, năm 1984, ông Miên xin chuyển vào trạm máy kéo Sơn Hòa. Công việc nhà nước “tà tà” ổn định, thế nhưng ông cứ ước ao được làm… “nông dân”. Thấy đất hoang, núi rừng bạt ngàn, ông xin phép chính quyền cho khai phá lập trang trại. “Hồi đó, Sơn Nguyên này thuộc diện vùng sâu nước độc, chẳng ai quan tâm. Tôi vốn máu nông dân gộc, thấy đất đai màu mỡ là… đê mê. Hồi đó vùng này cũng chưa mấy ai làm trang trại. Vợ chồng tôi cứ thế lầm lũi phát cây với chiếc rựa cùn, thức ăn sang trọngnhất là trứng từ mấy con gà mang theo. May, đất này hợp với cây mía” – ông Miên kể.

Chuyện ông Miên: Áp dụng tưới nhỏ giọt, mía tăng năng suất gấp đôi!

Ngay từ mới bắt đầu bước chân vào ngành mía, ông đã luôn trăn trở, làm thế nào để cây mía có năng suất cao, chất lượng tốt, nông dân trồng mía có thu nhập và đặc biệt là cây mía có đủ sức cạnh tranh, đứng vững trong thời kỳ hội nhập sắp tới. Từ đó, ông quyết tâm đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất thâm canh mía. Ông là người tiên phong mạnh dạn đầu tư về giống, dùng máy băm lá và cày lấp để bổ sung chất hữu cơ cho đất… Nhưng không dừng lại ở đó ông còn “làm chuyện khác người”: Ông đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt cho rừng mía của mình. Trong khâu làm đất, ông cho máy cày sâu, đánh tơi xốp đất. Rồi dùng máy trồng mía theo hàng, để dễ dàng kéo đường ống tưới    nhỏ giọt. Ông Miên đã chọn sử dụng dây tưới nhỏ giọt T-Tape khoảng cách lỗ 40cm với lưu lượng 1 lít/ giờ/ lỗ của hãng Rivulis Israel được phân phối bởi Nhà Bè Agri cho cây mía của mình.

day-tuoi-nho-giot-rivulis-t-tape-israelLúc này, nền đất mía liên tục được giữ ẩm, độ ẩm đồng đều cao, tiết kiệm điện, nước, nhân công, cây mía phát triển rất đồng đều. Hệ thống tưới nhỏ giọt còn giúp kết hợp bón phân, thuốc cho cây. Từ một mô hình tưới nhỏ giọt đã cung cấp được tổng thể các lợi ích tốt nhất cho người trồng mía như: giúp tăng năng suất từ 20 – 50%; Phân bón không bị bốc hơi, trôi ra ngoài, phân hấp thụ nhanh nhưng tiết kiệm; Hạn chế sâu bệnh, không tạo ra dòng chảy làm lây lan mầm bệnh, hạn chế được cỏ dại, luôn đảm bảo đủ lượng nước cho cây mía sinh trưởng tốt, tuy tốn kém ban đầu nhưng thời gian sử dụng lâu… Cụ thể niên vụ mía 2016-2017 năng suất mía bình quân ở huyện Sơn Hòa chỉ từ 50 – 60 tấn/ha thì cánh đồng mía của ông Miên đã đạt năng suất 120 tấn/ha. Ông Miên cho biết trước khi áp dụng công nghệ tưới tự động, năng suất nhà ông đang duy trì khoảng 80 tấn/ha, như vậy hệ thống tưới đã giúp vườn mía nhà ông tăng bình quân 40 tấn/ha, tăng 50%. Đồng thời trữ đường luôn đạt từ 9 – 11%, cao hơn 2 – 3% so với các trại mía trong vùng. Nhận thấy năng suất mía tăng trưởng rõ rệt sau khi áp dụng mô hình tưới nhỏ giọt trên cây mía, mới đây vào cuối tháng 3/2017 ông Miên tiếp tục đầu tư thêm hệ thống tưới nhỏ giọt cho 2ha. Thực sự, ông Miên đã xây dựng được một thương hiệu trồng mía. Dù có thời điểm giá mía xuống thấp, chỉ còn 920.000 đồng/tấn (giá bảo hiểm), nhưng ông Miên vẫn cầm chắc khoản lãi trên 40 triệu đồng/ha/vụ.

Chuyện ông Miên: Áp dụng tưới nhỏ giọt, mía tăng năng suất gấp đôi!

Ai đó có dịp ghé thăm vùng trồng mía Sơn Nguyên, hỏi thăm ông Miên nhất định sẽ được nghe qua những lời kể mộc mạc nhưng đầy chân tình khi nhắc đến ông Miên của người dân Sơn Nguyên: “Ông Miên giờ sướng nhất vùng này! Lái ô tô đi làm, chỉ chỏ nhân công sản xuất, chiều về thong dong đi chơi, uống bia. Con cái đều có cơ ngơi đuề huề, thành đạt. Chớ mà hồi trước, nhà ổng khổ lắm…”

Mùa hạn năm qua, vùng Sơn Nguyên ngút lửa trong nắng gió. Nhiều thửa mía cháy vàng, bị hỏng phân nửa. Thế nhưng vùng trang trại ông Miên vẫn xanh mướt, thoảng hương nước mát. Nhiều nông dân các nơi “bán tín bán nghi” kéo đến xem thử, rồi bị thuyết phục hoàn toàn trước mô hình tưới mía nhỏ giọt cho từng dãy mía mập mạp, “cao ngồng” của ông Miên. Gia chủ lại một bận đứng ra hướng dẫn cách lắp đặt, vận hành và… đãi bia đồng nghiệp.