Author Archives: Phan Thuỳ Linh

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 3: chăm sóc tiêu sau trồng.

Phần 1: Chọn trụ tiêu

Phần 2: Chuẩn bị đất trồng & cách trồng cây

Ở bài viết trước ta đã đề cập đến vấn đề  tủ gốc và che mát cho tiêu ngay sau trồng, nhưng ngoài vấn đề tủ gốc và che mát cần chú ý tưới nước hằng ngày cho đủ ẩm. Nếu gặp mưa lớn phải khơi rãnh cho thoát nước, không để gốc tiêu bị đọng nước. Sau khi trồng 15 ngày phải kiểm tra để phát hiện cây chết và dặm ngay. Cây để trồng dặm được giâm tước trong bầu đất để lớn đều với cây khác, không dặm bằng hom. Nếu 1-2 năm cây mới chết thì kéo dây gần đó chôn xuống đất cho thành cây mới lắp chỗ trống.

Trồng xen: Trồng xen là một trong những biện pháp chăm sóc, hổ trợ sự phát triển của cây tiêu.

Đối với cây tiêu mới trồng bằng nọc chết, khi cây còn nhỏ có thể trồng xen hoa màu ngắn ngày để che phủ đất chống khô hạn hoặc xói mòn, có thêm thu nhập hoặc làm phân xanh. Các cây nên trồng xen là cây họ đậu (đậu nành, đậu xanh, đậu phộng để thêm đạm cho đất). Ngoài ra có thể trồng xen các cây hoa màu khác như bắp, khoai lang, chuối…Khi cây tiêu lớn bò lên tới đỉnh trụ thay cây trồng xe bằng cây che phủ đất họ đậu như đậu mèo, muồng hoa vàng, sục sạc, Kudzu…để giữ ẩm cho đất và làm phân xanh. Chú ý bón phân cho cây trồng xen để giữ độ phì cho đất.

Cây tiêu còn có thể trồng xen trong vườn dừa hoặc cây ăn quả khác nhưng cần chú ý khoảng cách của cây trồng chính sao cho có đủ ánh sáng thích hợp và chất dinh dưỡng cho cây tiêu phát triển.  Muốn vậy khoảng cách giữa các hàng dừa và cây ăn quả ít nhất là 8m. Có thể dùng cây ăn quả, cây dừa làm trụ sống cho tiêu bò lên, gốc tiêu phải cách gốc cây trên 2m. Trong các vườn cà phê có trồng cây che bóng cũng có thể trồng xen tiêu cho leo lên cây che bóng nhưng phải đốn tỉa cây che bóng làm sao cho cây vẫn có tác dụng che bóng cho cây cà phê mà vẫn đảm bảo đủ ánh sáng cho cây tiêu. Bón đủ phân cho tiêu và cây trồng chính cũng là lưu ý quan trọng để tránh sự cạnh tranh về chất dinh dưỡng.

Tưới tiêu nước cho tiêu: Nước có vai trò rất quan trọng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây tiêu. Tiêu thích ẩm nhưng không chịu được úng vì vậy việc tưới nước và tiêu nước đều rất cần thiết.

Tưới nước: Mùa nắng là thời gian khô hạn, lúc này cây tiêu lại đang ra hoa và có quả non rất cần nước . Nếu thiếu nước, cây sẽ phát triển chậm, bị rụng hoa và rụng quả nhiều, giảm năng suất rõ rệt. Đắp bờ tạo thành bồn xung quanh gốc có đường kính từ 1-1,5m, cao 10-15cm. Tưới nước trực tiếp vào gốc hoặc tưới phun lên tán cây cho đầy 2/3 bồn, không phun nước mạnh vào gốc để tránh làm trơ rễ tiêu. Đối với tiêu kinh doanh thì 7-10 ngày tưới một lần, tiêu nhỏ thì 2-3 ngày tưới 1 lần. Nếu nắng nhiều, nước khô thì lượng nước tưới phải nhiều hơn. Đối với yêu cầu nước như trên tưới nhỏ giọt cho tiêu được đánh giá là phương pháp tối ưu và hiệu quả nhất. Tưới nhỏ giọt đảm bảo lượng nước tưới cho tiêu đầy đủ, chính xác hơn, bên cạnh đó còn có thể kết hợp cả châm phân tự động, giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức chăm sóc tiêu. Mô hình tưới nhỏ giọt cho tiêu còn giúp hạn chế cỏ dại, sâu bệnh, tiết kiệm nước…

Tuoi nho giot cho cay hồ tiêu– Tiêu nước: Trong mùa mưa cần tạo điều kiện thoát nước tốt cho vườn tiêu, không  để gốc tiêu bị đọng nước.Bị đọng nước rễ tiêu sẽ kém phát triển, dễ bị nấm bệnh gây thối rễ, cây sinh trưởng kém và có thể chết hàng loạt. Kinh nghiệm nhiều nơi cho thấy rằng sau khi mưa 2-3 giờ mặt đất đã khô nhưng đào sâu xuống 20-30cm mà vẫn có ứ nước thì đã có ảnh hưởng, cần khơi rãnh tháo nước ngay. Để chủ động thoát nước trong vườn tiêu kể cả nơi dất dốc cần đào mương nhỏ hoặc khơi rãnh nông dọc giữa các hàng tiêu, lượng đất đào lên dùng đắp vào gốc tiêu.

Tủ gốc cũng là biện pháp giữ ẩm tốt tiêu trong mùa nắng, nhưng mùa mưa thì cần kéo rơm rác ra xa gốc để không bị đọng nước, quá ẩm.

Bón phân cho tiêu:

Đối với phân hữu cơ, nguyên tắc sử dụng là phải bón phân đã ủ hoai mục và bón lót là chính, ngoài ra 1-2 năm bón bổ sung 1 lần. Lượng phân hữu cơ bón lót cho 1 hố trước khi trồng là 10-20kg , tuỳ đất xấu hay tốt. Phân bón lót thường dùng  là phân trâu, bò hoai, mỗi hố trộn thêm 0,3-0,5kg supper lân.

Đối với thời kì cho thu hoạch phân hữu cơ được bón theo rãnh đào xung quanh mép tán tiêu, rãnh sâu và rộng 30cm. có thể bón vào đầu hoặc cuối mưa, liều lượng trung bình 10kg/trụ.

Đối với phân hoá học: Phân hoá học thường chia bón thành 3-4 lần trong năm. Tác dụng lần bón đầu là thúc đẩy quá trình ra lá non và hoa, lần 2 và 3 để nuôi quả, lần thứ 4 chủ yếu duy trì sự sinh trưởng phát triển của cây, tích luỹ chất dinh dưỡng cho mùa quả sau.

Theo GS. Phân Quốc Sủng, lượng phân bón nguyên chất tối đa cho 1ha hồ tiêu ở thời kỳ kinh doanh có thể như sau:

Đạm (N): 200kg – Lân (P2O5): 300kg – Kali (K2O): 250kg. Lượng phân này chia bón làm 3-4 lần trong năm:

  • Lần 1: Đầu mùa mưa bón 25% lượng phân cả năm
  • Lần 2 và 3: Bón trong mùa mưa, cách nhau 2 tháng, chiếm 50% lượng phân cả năm.
  • Lần 4: bón vào mùa khô lượng phân còn lại 20-25%

Phân vi lượng và phân bón lá: Trong thực tế và nhiều thí nghiệm ở các vùng trồng tiêu đều cho thấy nếu được bón thêm phaanvi lượng sẽ giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn và tăng năng suất. Một số phân bón hữu cơ sinh học có chứa các vi lượng có thể dùng cho cây tiêu như: Komix, Grow More, Humix…

 

Một số biện pháp chăm sóc khác:

  • Buộc dây tiêu vào trụ: Sau khi trồng nếu dây tiêu dài khoảng 25-30cm đã vươn tới trụ cần dùng dây mềm buộc dây tiêu cho dính vào trụ. Buộc ở vị trí gần đốt của cây tiêu để rễ mau bám vào trụ. Thường xuyên buộc cho đến khi dây tiêu bò cao hết trụ, mùa mưa 5-7 ngày buộc 1 lần, mùa khô 10 ngày buộc 1 lần/
  • Xén tỉa và đốn dây: Trong 1-2 năm đầu tiên nên tỉa các cành ác (cành cho quả) để tập trung dinh dưỡng cho cây sinh trường tốt, cho năng suất cao ở những năm sau.
  • Tỉa hoa: Những cây tiêu trồng từ thân chính thì đến năm thứ 2 đã có 1 số cành ác cho ra hoa (trái chiến). Các gié hoa này nếu để lại sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và các năm sau vì vậy phải tỉa bỏ. Sau đợt hoa chính, một số hoa ra muộn sẽ cạnh tranh dinh dưỡng của đợt hoa chính và cành ác năm sau, và các hoa này cũng thường bị rụng và không đậu quả nên cần tỉa bỏ.
  • Làm cỏ, vun gốc: Vườn tiêu cần làm sạch cỏ, thông thoáng, nhất là khu vực quanh gốc để cỏ dại không tranh chấp nước, chất dinh dưỡng với tiêu. Hằng năm kế hợp làm cỏ và bón phân nên dùng đất mặt vun gốc cao 10-15cm.

Xén tỉa cây trụ sống: Cần chú ý xén tỉa cây trụ sống vào mùa mưa để đảm bảo đủ ánh sáng, mùa nắng trừ trường hợp tán cây trụ quá rậm thì nên hạn chế xén tỉa nhiều để điều hoà ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm cho vườn tiêu.

(Tài liệu tổng hợp theo sách Bác sĩ cây trồng, KS.Nguyễn Mạnh Chinh-TS. Nguyễn Đăng Nghĩa)

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 2 chuẩn bị đất trồng, cách trồng cây

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 2: chuẩn bị đất trồng, cách trồng cây.

Phần 1: Chọn trụ trồng tiêu

Sau khi đã chuẩn bị trụ trồng tiêu việc tiếp theo bạn cần làm là chuẩn bị đất trồng cũng như thiết kế khu vườn tiêu của mình.

Có một vài lưu ý như:

– Thiết kế vườn tiêu: Ở nơi trống gió cần trồng hàng cây chống gió. Cây chắn gió thường dùng là muồng đen, tràm bông vàng, keo tai tượng, xà cừ. Giữa hàng cây chắn gió và vườn tiêu phải đào mương để thoát nước và tránh lễ cây lan vào vườn. Tuỳ diện tích vườn lớn nhỏ mà chia thành từng lô, diện tích mỗi lô trên 2000 m2, giữa các lô có đường đi lại. Nếu vườn nhỏ thì đào mương, lên liếp để trồng và thường dùng trụ sống.

– Làm đất: Nếu vườn có cây cũ cần đào hết gốc rễ. Cày đất sâu 25-30cm. Đất chua thì rải vội, đất có nhiều mối thì rải thuốc sâu. Sau đó bừa đất nhỏ, nhặt hết rễ cây và cỏ dại. Cày đất trước khi trồng khoảng 1 tháng để phơi tải.

– Đào hố, đắp mô trồng: Sau khi làm đất, dựa vào khoảng cách trồng để định vị trí cắm trụ và đào hố đắp mô. Ở vùng đất cao, mực nước ngầm sâu thì đào hố để trồng. Mỗi trụ đào 1 hoặc 2 hố 2 bên. Hố có kích thước rộng và sâu 40-60cm, đất xấu thì đào hố rộng. Hố cách trụ 20-30cm. Bón lót cho mỗi hố 10-15kg phân hữu cơ hoai mục, trộn với ít đất mặt và 100g super lân đủ lắp đầy hố, hơi cao hơn mặt đất một chút. Nên trộn thêm vào phân lót cho mỗi hố 50g thuốc sâu Diaphos 10g hoặc Vifuran 3H. Hố cần đào thẳng hàng và tiến hàng trước khi trồng 1-2 tháng.

Nếu trụ tiêu xây gạch thì đào xung quanh trụ một rãnh rộng 40cm, cách chân trụ 20-30cm, cũng dùng đất mặt và phân bón lấp đầy.

Ở vùng đất thấp, mực nước ngầm cao như ở Đồng bằng sông Cửu Long , sau khi đào mương liên tiếp thì đắp mô trên liếp để trồng. Mô có đường kính chân khoảng 1m, cao 0,5m. Dùng đất khô trộn với phân hữu cơ hoai mục để đắp mô. Trên mỗi liếp có thể đắp 1-2 hàng mô tuỳ diện tích mặt liếp. Mô cũng cần làm trước khi trồng 1-2 tháng..

Sau khi chuẩn bị đất trồng thì bạn tiến hành trồng cây thôi:

Về thời vụ trồng: thời vụ trồng thay đổi theo điều kiện khí hậu từng vùng. Nói chung nên trồng vào đầu mùa mưa (miền Trung trồng vào tháng 7-9; Tây Nguyên trồng tiêu từ tháng 5-7; Đông Nam Bộ trồng tháng 6-8; ĐBSCL từ tháng 5-8).

– Khoảng cách trồng: Khoảng cách trồng thích hợp tuỳ theo loại trụ, giống tiêu và số hom/trụ.

+ Nếu trụ bằng cây chết hoặc cột xi măng, giống tiêu sẻ: trồng khoảng cách 1,8-2m, trồng 2hom/trụ (2.770/ha). Với giống tiêu lá lớn khoảng cách là 2x2m, 2 hoặc 3 hom/trụ (2.500 trụ/ha).

+ Trụ xây gạch: khoảng cách rộng hơn 3×3,5m hoặc 3,5×3,5m (810 -950 trụ/ha), mỗi trụ trồng 8-12hom.

+ Trụ sống: trồng khoảng cách 2×2,5m hoặc 2,5×2,5m (1.600-2000 trụ/ha), 2-3 hom/trụ.

Ở vùng ĐBSCL do phải đào mương lên liếp nên mật độ chỉ khoảng 1.700 trụ/ha.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 2 chuẩn bị đất trồng, cách trồng cây

Lưu ý: Không nên trồng dày vì trồng dày tiêu sẽ cho ít quả, cành quả có lóng dài, ít gié quả, tỉ lệ đậu quả thấp, thưa quả và quả nhỏ, thường bị hiện tượng bồ cào.

-Về cách trồng: Trước khi đặt cây hom dùng cuốc xới đều đất trong hố. Moi giữa hố hoặc mô 1 hốc nhỏ vừa đặt bầu tiêu. Đặt hom tiêu nghiêng về phía trụ một góc 45◦, nếu đặt nhều hom thì các hom cần cách nhau 10-15cm. Mặt bầu ngang mặt đất. Đặt hom xong dùng đất mặt tơi nhỏ lắp bằng mặt bầu. Nếu là hom không có bầu thì chôn ngập 3 mắt hom dưới hố (hom 5-6 mắt). Dùng chân nén nhẹ đất quanh gốc tiêu, dùng rơm rác, cỏ khô ủ quanh gốc và tưới nước ngay.

Nên trồng buổi chiều, lúc trời râm mát để cây con dễ sống. Sau khi trồng nên che bóng mát cho tiêu bằng các vật liệu đơn giản như lá dừa, lá chuối hoặc dùng lưới ni lông.

Công việc tiếp theo và cực kỳ quan trọng bạn phải lưu ý làm tốt để cây tiêu cho năng suất tốt đó là quá trình chăm sóc cây tiêu sau khi trồng. Quá trình chăm sóc bao gồm nhiều việc như trồng xen, tưới nước cho cây, bón phân, cắt tỉa, làm cỏ, vun gốc…Những lưu ý cơ bản trong quá trình chăm sóc tiêu sau trồng được chia sẻ trong bài Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 3: chăm sóc tiêu sau trồng.

(Tài liệu tổng hợp theo sách Bác sĩ cây trồng, KS.Nguyễn Mạnh Chinh-TS. Nguyễn Đăng Nghĩa)

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 1: chọn trụ tiêu.

Trụ tiêu là cây chống đỡ để tiêu bám vào đó trong suốt đời sống. Có 2 loại trụ tiêu là trụ sống và trụ chết.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

1.Trụ sống: Là cây đang sống để cho tiêu bám vào. Dùng cây sống làm trụ tiêu có ưu điểm là dễ kiếm và dễ nhân giống bằng hạt, bằng cành, che bóng một phần cho tiêu còn nhỏ, lá cây rụng xuống giúp tăng chất hữu cơ cho đất. Nhược điểm là cạnh tranh một phần nước và chất dinh dưỡng của cây tiêu, hằng năm tốn công xén tỉa, mật độ trồng tiêu thường thưa, cây trụ sống có thể là nơi ẩn náu, lan truyền sâu bệnh.

Cách khắc phục nhược điểm: Cây dùng làm trụ sống phải có cọc ăn sâu để bớt cạnh tranh dinh dưỡng và nước, có tuổi thọ dài (trên 30 năm), vỏ nhám và không bị tróc, ít bị sâu bệnh hại, sinh trưởng nhanh, khả năng chống chịu hạn úng tốt. Nếu được cây họ đậu thì càng tốt vì sẽ làm cho đất màu mỡ thêm.

Những cây thường dùng làm trụ sống cho tiêu: cây anh đào giả, cây bình linh, cây vông nem, cây lồng mức, cây muồng xiêm… Ngoài ra cũng có thể dùng một số cây khác như keo ấn độ, muồng đen, cối rừng, cây gòn và các cây ăn quả như mít, xoài, cau, dừa, cây dâu tằm…

Lưu ý khi trồng tiêu bằng trụ sống:

-Phải trồng cây trụ sống trước khi trồng tiêu 1-2 năm.

-Sau khi trồng được 2-3 năm phải tỉa cành lá, cho thân thẳng, khi cây cao khoảng 4m thì phải chặt ngọn để tạo tán.

-Hằng năm trong mùa mưa tỉa bớt tán lá cho vườn thông thoáng, mùa khô nắng để cây ra lá cho có bóng râm.

-Khi trồng tiêu với trụ sống phải trồng xa trụ trên 0.5m, với dừa phải trồng xa 2m để không bị rễ dừa cạnh tranh.

Hiện nay trồng tiêu với trụ sống là phương pháp được khuyến khích hơn để bảo vệ rừng và môi trường sống.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

2.Trụ chết: trụ chết có thể là cây gỗ, trụ xây gạch hoặc trụ xi măng. Ưu điểm khi dùng trụ chết là không cạnh tranh dinh dưỡng với tiêu, không cần trồng trước lâu, nếu là trụ gạch haowjc xi măng thì rất bền, có thể tồn tại suốt đời sống cây tiêu. Nhược điểm là chi phí đầu tư lớn, trụ gạch hoặc xi măng toả nhiệt mạnh làm tổn thương rễ bám của tiêu, phải che tủ ở trên để có bóng râm, nếu là cây gỗ chết loại xấu thì dễ bị mối mọt làm hư hỏng, gỗ tốt thì rất khó tìm.

Lưu ý khi trồng tiêu bằng trụ chết:

– Trụ gỗ:

+ Phải là trụ bền chắc, không bị mối mọt và nấm để đảm bảo cho suốt đời sống của cây tiêu (20-30 năm).

+ Trụ phải cao từ 3,5 – 4 m, đường kính trên 15cm, chôn sâu xuống đất 0,6-1m. Lỗ chôn nên xử lý thuốc trừ mối, để cây trụ thêm vững chắc dùng dây thép nối các đầu cây trụ lại với nhau.

+ Các cây thương dùng làm trụ chết: căm xe, cà chắc, cà đuối, tàu láu, sầu đâu…Ở Phú Quốc thường dùng lõi cây thanh trà, ở U Minh dùng cây cóc rừng làm trụ tiêu cũng tốt.

-Trụ xây gạch:

+ Trụ xây hình vuông hoặc hình tròn, cao 3,5 – 4 m, đường kính đáy 0,8-1,2m, đường kính chóp 0,5-0,8m, có hình tháp, móng sâu xuống đất khoảng 0,5m. Ruột tháp rỗng, xung quanh tháp xếp gạch thành các lỗ hỏng.

+ Có thể đổ trong ruột tháp phân chuông ủ hoai để cung cấp thêm dinh dưỡng, giữ ẩm và điều hào nhiệt độ cho trụ tiêu.

-Trụ bằng xi măng: Cột xi măng, lõi thép hình vuông, mỗi cạnh 12-15cm, cao 3-4m.

Cần chú ý: Trụ bằng gạch hoặc xi măng khi cây tiêu chưa che phủ hết thì hút nhiệt rất mạnh, nhiệt độ bề mặt trụ có thể lên tới 50-60°C sẽ ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây. Vì vậy thời gian đầu, khi cây còn nhỏ cần được che chắn, tưới nước, bón phân đầy đủ.

Trường hợp chưa kịp chuẩn bị trụ chính bạn có thể chuẩn bị trụ tạm cho cây bò lên. Trụ tạm có thể là trụ bằng gỗ không tốt lắm, sử dụng được 1-2 năm rồi thay trụ chính.

Sau khi đã chọn được trụ tiêu bược tiếp theo là chuẩn bị đất trồng tiêu bao gồm các công đoạn như thiết kế vườn tiêu, làm đất, đào hố, lắp mô trồng…. Quy trình chuẩn bị đất trồng này sẽ được chia sẻ trong bài viết tiếp theo:

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 2: chuẩn bị đất trồng, cách trồng cây

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 3: Chăm sóc tiêu sau trồng

(Tài liệu tổng hợp theo sách Bác sĩ cây trồng, KS.Nguyễn Mạnh Chinh-TS. Nguyễn Đăng Nghĩa)

Nhu cầu nước qua từng giai đoạn của cây khoai lang

Nhu cầu nước qua từng giai đoạn của cây khoai lang

Khoai lang là một cây hoa màu trồng cạn, thời gian sinh trưởng ngắn (3 – 5 tháng) nhưng trong quá trình sinh trưởng phát triển khoai lang đã tổng hợp được một lượng vật chất hữu cơ khá lớn. Đó là nhờ khoai lang đã sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời tổng hợp CO2 và NH2 tạo nên chất hữu cơ – nguyên liệu để tạo ra các bộ phận của cây khoai lang cũng như tất cả các vật chất dự trữ vào củ.

Như vậy nước đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây khoai lang. Lượng mưa thích hợp nhất đối với khoai lang từ 750 – 1000mm/năm, khoảng xấp xỉ 500mm trong cả vụ trồng.

Mặc dù độ ẩm thích hợp cho khoai lang nói chung là khoảng 70 – 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng, nhưng nhu cầu về nước đối với khoai lang qua từng thời kỳ sinh trưởng phát triển cũng có khác nhau. Nhu cầu nước của khoai lang có thể chia ra làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn đầu (từ trồng đến kết thúc thời kỳ phân cành kết củ): nhu cầu nước của khoai lang còn thấp nên độ ẩm đất chỉ cần đảm bảo 65 – 75% độ ẩm tối đa đồng ruộng nhưng lại là giai đoạn quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới quá trình hình thành củ, quyết định số củ trên 1 cây khoai lang. Tuy nhiên nếu độ ẩm đất quá cao (90 – 100%) thì có lợi cho quá trình mọc mầm ra rễ, song lại ảnh hưởng không tốt tới sự phân hoá hình thành củ làm giảm số lượng củ trên 1 dây khoai lang. Lượng nước cần trong giai đoạn này thấp khoảng 15 – 20% tổng lượng nước cần trong suốt thời kỳ sinh trưởng phát triển bởi vào lúc này sinh trưởng của cây khoai lang tăng chậm, nhất là bộ phận trên mặt đất. Kết hợp với giai đoạn này cây khoai lang có khả năng chịu hạn khá.

Giai đoạn thứ hai: (chủ yếu là giai đoạn thân lá phát triển): Từ sau khi kết thúc thời kỳ phân cành kết củ, số củ hữu hiệu đã ổn định, cây khoai lang bước vào thời kỳ sinh trưởng mạnh của bộ phận trên mặt đất, số lá và diện tích lá tăng, cành cấp 1, 2, 3 phát triển mạnh tạo nên một lượng sinh khối lớn – Lúc này củ cũng bước vào giai đoạn phát triển nhưng với tốc độ chậm. Để tạo nên được lượng sinh khối lớn cây khoai lang cần rất nhiều nước. Lượng nước cần tăng dần từ đầu cho đến khi thân lá đạt đến trị số tối đa. Lượng nước cần cho giai đoạn này chiếm cao nhất. Khoảng 50 – 60% tổng lượng nước cần trong suốt thời kỳ sinh trưởng. Tuy nhiên để cho luống khoai có đủ độ thoáng khí, độ ẩm đất cũng chỉ cần đảm bảo 70 – 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Đây là giai đoạn cây khoai lang cần được cung cấp đầy đủ nước. Trong sản xuất tưới vào giai đoạn này hiệu quả tăng năng suất rất rõ, nhất là trong điều kiện thời vụ nào gặp hạn thời tiết khô hanh (vụ Đông ở miền Bắc Việt Nam). Và phương pháp tưới nhỏ giọt cho cây khoai lang hiện nay đang là phương pháp tưới tối ưu mang lại hiệu quả cũng năng suất cao cho khoai lang. Mô hình tưới nhỏ giọt này đã được ứng dụng nhiều tại các tỉnh Tây Nguyên như Đăk Lak, Gia Lai…

Mô hình tưới nhỏ giọt trên 15ha khoai lang tại Đăk Lăk

Mô hình tưới nhỏ giọt trên 15ha khoai lang tại Đăk Lăk

Giai đoạn thứ ba: Sau khi thân lá đạt tới đỉnh cao nhất, giảm xuống từ từ cho đến khi thu hoạch bộ phận trên mặt đất về cơ bản hầu như ngừng sinh trưởng và giảm sút. Quá trình phát triển tập trung chủ yếu vào sự vận chuyển tích luỹ vật chất hữu cơ từ thân lá vào củ. Tốc độ lớn của củ tăng nhanh, nhất là vào thời điểm trước khi thu hoạch khoảng 1 tháng; cung cấp nước vào lúc này không có tác dụng xúc tiến sự phát triển thân lá mà chính để phục vụ quá trình vận chuyển tích luỹ vật chất đồng hoá vào củ. Do đó lượng nước cần vào giai đoạn này đã bắt đầu giảm xuống, chỉ khoảng trên dưới 20% tổng lượng nước cần trong suốt thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây khoai lang. Tuy nhiên để củ phát triển thuận lợi cũng cần đảm bảo độ ẩm đất 70 – 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Trong sản xuất thường người ta ít tưới vào giai đoạn này bởi giai đoạn này nếu độ ẩm trong đất quá cao hoặc gặp trời mưa củ khoai lang rất dễ bị thối.

Cung cấp nước cho khoai lang là một biện pháp kỹ thuật trong thâm canh tăng năng suất khoai lang. Song phải cung cấp một cách hợp lý trên cơ sở dựa vào nhu cầu nước qua từng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây khoai lang kết hợp với việc xác định độ ẩm đất trên đồng ruộng. Nói một cách khác trong sản xuất cần dựa vào các thời vụ trồng cụ thể (vụ Đông Xuân, vụ Đông, và vụ Hè Thu) để có chế độ tưới cụ thể về cả lượng nước tưới, thời kỳ tưới và phương pháp tưới thích hợp.

 

Nguồn: Giáo trình cây khoai lang – Trường đại học nông lâm Thái Nguyên

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2017, cả nước xuất khẩu 126.000 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 750 triệu USD, tăng 18% về lượng nhưng giảm 16% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Theo nhận định của Hiệp hội, nhu cầu sử dụng hồ tiêu thế giới ngày càng tăng mạnh, mục tiêu xuất khẩu 180.000 tấn hồ tiêu trong năm 2017 là điều dễ dàng thực hiện.

Hiện nay giá hồ tiêu xuất khẩu trung bình ở mức 90.000 đồng/kg và vẫn còn tiếp tục nhích lên do nhu cầu của nhà nhập khẩu thế giới. Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), hiện nay sản lượng hồ tiêu Việt Nam, cũng như lượng hồ tiêu xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam chiếm 60% nhu cầu của khách hàng khắp thế giới. Không những vậy, sản phẩm tiêu sạch của Việt Nam vẫn đang là nguồn hàng được ưa chuộng của các khách hàng khó tính như thị trường Mỹ, Đức, châu Âu, Nhật Bản,…

Theo ông Nguyễn Ngọc Luân, Giám đốc Hợp tác xã Hồ tiêu Lâm Sang (Đồng Nai), trong 6 tháng đầu năm 2017, hợp tác xã đã xuất khẩu 300 tấn tiêu sạch, đạt tiêu chuẩn của thị trường Đức và châu Âu, gấp đôi số lượng so với cùng kì năm ngoái. Nhu cầu của thị trường khó tính này còn rất lớn, họ sẵn sàng đặt hàng với Hợp tác xã  5.000 tấn tiêu mỗi năm, nhưng khả năng sản xuất hiện nay để đáp ứng được tiêu chí chất lượng vẫn còn rất ít.

Thậm chí vừa qua, để đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới về tiêu sạch, Việt Nam đã phải nhập khẩu hơn 20.000 tấn tiêu sạch từ Campuchia về chế biến xuất theo đơn đặt hàng của nhà nhập khẩu.

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Thêm một điều đáng mừng nữa là: Việt Nam đang là nước đứng đầu trong các nước xuất khẩu hồ tiêu vào Pakistan. Pakistan là nước có nhu cầu tiêu thụ hạt tiêu cao và ổn định trong khi không trồng được hạt tiêu nên phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu:

Năm 2016, tổng nhập khẩu tiêu của Pakistan là 11 nghìn tấn, trị giá gần 44 triệu USD. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu 8,8 nghìn tấn, trị giá hơn 36 triệu USD, chiếm 80% thị trường. Pakistan đứng thứ 7 trong các thị trường xuất khẩu tiêu của Việt Nam, chiếm 6% lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam.

Tuy nhiên để có chất lượng tiêu tốt không là điều đơn giản, nó phải được sự cân bằng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố như giống cây trồng, phòng, chống dịch bệnh trên cây tiêu một cách an toàn, các yếu tố về phân bón, tưới nước cho cây tiêu…

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Theo đó, ngành Nông nghiệp các  tỉnh khu vực Tây Nguyên, tiêu biểu là Đăk Nông đã khuyến khích người dân phát triển cây hồ tiêu ở các quy mô vườn gia đình, trang trại, nông, lâm kết hợp… Đồng thời, việc hướng dẫn nông dân trồng tiêu trên trụ bằng cây sống hay xây trụ bê tông, gạch để làm trụ tiêu, hạn chế khai thác cây rừng cũng được các địa phương, cơ quan chuyên môn thường xuyên tổ chức triển khai.  Cũng như để hạn chế tình trạng dịch bệnh đang diễn ra tại các vườn tiêu, việc ứng dụng các biện pháp trồng xen canh, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học, tưới nước nhỏ giọt… ngày càng được người dân quan tâm, ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Triển vọng xuất khẩu và sự dẫn đầu sân chơi của hồ tiêu Việt Nam

Nhu cầu nước của cây bơ t

Nhu cầu nước tưới của cây bơ

Bơ là loại quả có hàm lượng dinh dưỡng cao, ở vùng Tây Nguyên cây bơ cũng là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao. Nhưng để đạt được năng suất cũng như chất lượng quả tốt nhất người trồng bơ phải hiểu rõ hết các đặc tính kỹ thuật của cây bơ, có phương pháp chăm sóc chính xác ngay từ đầu để đảm bảo bơ cho năng suất cao khi thu hoạch. Một trong các đặc tính góp phần quan trọng vào việc quyết định năng suất của cây bơ là yếu tố nước tưới cho cây bơ. Tại Ấn Độ, giai đoạn bơ lớn lên, bộ rễ bơ đã phát triển người trồng bơ tưới bơ với lưu lượng 150 lít/cây/lần tưới với chu kỳ tưới 15 ngày suốt từ từ tháng 1 đến tháng 3 đã làm tăng 68% năng suất bơ.

Nhu cầu nước của cây bơ tương đối lớn. Chế độ nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển và năng suất, chất lượng của quả Bơ. Nhu cầu nước của cây Bơ thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt, thời vụ gieo trồng, giống và từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây. Việc cung cấp nước đủ và đúng cho cây bơ rất quan trọng trong việc giúp kích thích cây ra bông trổ hoa nhanh hơn vì nếu như không tưới nụ sẽ bị sượng hoặc là hoa sẽ trổ không đồng đều. Việc tưới nước cũng sẽ giúp hạn chế việc rụng trái non về sau này. Lưu lượng tưới cụ thể:

– Năm thứ nhất đến thứ 3 sau trồng: 50 – 100 lít nước cây lần; tưới 2 – 3 lần vào giữa và cuối mùa khô.

– Khi cây cho quả: 100 – 200 lít cây lần; tưới 2 – 3 lần từ sau khi hoa bắt đầu nở.

Cần lưu ý thêm giai đoạn năm thứ 2: Là lúc cây bơ đã lớn lên đáng kể, bộ rễ đã ăn sâu nhưng vẫn phải thường xuyên tưới bổ sung trong mùa khô, thường khoảng 4-5 đợt, mỗi đợt cách nhau 15-20 ngày.

Với nhu cầu nước tưới vừa bàn trên của cây bơ, việc áp dụng mô hình tưới tự động cho vườn bơ là phương pháp tối ưu giúp tiết kiệm được nhân công, chi phí mà vẫn đảm bảo được năng suất trồng. Hiện nay đã có rất nhiều mô hình ứng dụng thành công hệ thống tưới tự động cho các loại cây trồng nói chung và cây bơ nói riêng của bà con Tây Nguyên mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một số phương pháp tưới tự động phổ biến, đạt hiệu quả cao cho cây bơ như:

Tưới nhỏ giọt bằng hình thức sử dụng dây tưới nhỏ giọt cuốn quanh gốc. Hình thức nhỏ giọt quanh gốc này rất tiết kiệm nước, tiết kiệm chi phí bón phân vì có thể kết hợp châm phân tự động, tưới nhỏ giọt cũng giúp hạn chế cỏ dại, mầm bệnh đồng thời cũng không đòi hỏi áp suất cao.

tưới nhỏ giọt đáp ứng tốt nhu cầu nước tưới của cây bơ

  • Tưới phun mưa tại gốc: Phương pháp này sử dụng các loại béc tưới phun tại gốc bơ.

Nhu cầu nước của cây bơ t

Chuyện ông Miên: Áp dụng tưới nhỏ giọt, mía tăng năng suất gấp đôi!

Chuyện ông Miên: Áp dụng tưới nhỏ giọt, mía tăng năng suất gấp đôi!

Dân Sơn Nguyên vẫn còn truyền tụng, cách đây hơn 30 năm, ông Miên lập nghiệp bằng chiếc rựa cùn và mấy con gà. Vốn là công nhân cơ khí ở Bắc Ninh, năm 1984, ông Miên xin chuyển vào trạm máy kéo Sơn Hòa. Công việc nhà nước “tà tà” ổn định, thế nhưng ông cứ ước ao được làm… “nông dân”. Thấy đất hoang, núi rừng bạt ngàn, ông xin phép chính quyền cho khai phá lập trang trại. “Hồi đó, Sơn Nguyên này thuộc diện vùng sâu nước độc, chẳng ai quan tâm. Tôi vốn máu nông dân gộc, thấy đất đai màu mỡ là… đê mê. Hồi đó vùng này cũng chưa mấy ai làm trang trại. Vợ chồng tôi cứ thế lầm lũi phát cây với chiếc rựa cùn, thức ăn sang trọngnhất là trứng từ mấy con gà mang theo. May, đất này hợp với cây mía” – ông Miên kể.

Chuyện ông Miên: Áp dụng tưới nhỏ giọt, mía tăng năng suất gấp đôi!

Ngay từ mới bắt đầu bước chân vào ngành mía, ông đã luôn trăn trở, làm thế nào để cây mía có năng suất cao, chất lượng tốt, nông dân trồng mía có thu nhập và đặc biệt là cây mía có đủ sức cạnh tranh, đứng vững trong thời kỳ hội nhập sắp tới. Từ đó, ông quyết tâm đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất thâm canh mía. Ông là người tiên phong mạnh dạn đầu tư về giống, dùng máy băm lá và cày lấp để bổ sung chất hữu cơ cho đất… Nhưng không dừng lại ở đó ông còn “làm chuyện khác người”: Ông đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt cho rừng mía của mình. Trong khâu làm đất, ông cho máy cày sâu, đánh tơi xốp đất. Rồi dùng máy trồng mía theo hàng, để dễ dàng kéo đường ống tưới    nhỏ giọt. Ông Miên đã chọn sử dụng dây tưới nhỏ giọt T-Tape khoảng cách lỗ 40cm với lưu lượng 1 lít/ giờ/ lỗ của hãng Rivulis Israel được phân phối bởi Nhà Bè Agri cho cây mía của mình.

day-tuoi-nho-giot-rivulis-t-tape-israelLúc này, nền đất mía liên tục được giữ ẩm, độ ẩm đồng đều cao, tiết kiệm điện, nước, nhân công, cây mía phát triển rất đồng đều. Hệ thống tưới nhỏ giọt còn giúp kết hợp bón phân, thuốc cho cây. Từ một mô hình tưới nhỏ giọt đã cung cấp được tổng thể các lợi ích tốt nhất cho người trồng mía như: giúp tăng năng suất từ 20 – 50%; Phân bón không bị bốc hơi, trôi ra ngoài, phân hấp thụ nhanh nhưng tiết kiệm; Hạn chế sâu bệnh, không tạo ra dòng chảy làm lây lan mầm bệnh, hạn chế được cỏ dại, luôn đảm bảo đủ lượng nước cho cây mía sinh trưởng tốt, tuy tốn kém ban đầu nhưng thời gian sử dụng lâu… Cụ thể niên vụ mía 2016-2017 năng suất mía bình quân ở huyện Sơn Hòa chỉ từ 50 – 60 tấn/ha thì cánh đồng mía của ông Miên đã đạt năng suất 120 tấn/ha. Ông Miên cho biết trước khi áp dụng công nghệ tưới tự động, năng suất nhà ông đang duy trì khoảng 80 tấn/ha, như vậy hệ thống tưới đã giúp vườn mía nhà ông tăng bình quân 40 tấn/ha, tăng 50%. Đồng thời trữ đường luôn đạt từ 9 – 11%, cao hơn 2 – 3% so với các trại mía trong vùng. Nhận thấy năng suất mía tăng trưởng rõ rệt sau khi áp dụng mô hình tưới nhỏ giọt trên cây mía, mới đây vào cuối tháng 3/2017 ông Miên tiếp tục đầu tư thêm hệ thống tưới nhỏ giọt cho 2ha. Thực sự, ông Miên đã xây dựng được một thương hiệu trồng mía. Dù có thời điểm giá mía xuống thấp, chỉ còn 920.000 đồng/tấn (giá bảo hiểm), nhưng ông Miên vẫn cầm chắc khoản lãi trên 40 triệu đồng/ha/vụ.

Chuyện ông Miên: Áp dụng tưới nhỏ giọt, mía tăng năng suất gấp đôi!

Ai đó có dịp ghé thăm vùng trồng mía Sơn Nguyên, hỏi thăm ông Miên nhất định sẽ được nghe qua những lời kể mộc mạc nhưng đầy chân tình khi nhắc đến ông Miên của người dân Sơn Nguyên: “Ông Miên giờ sướng nhất vùng này! Lái ô tô đi làm, chỉ chỏ nhân công sản xuất, chiều về thong dong đi chơi, uống bia. Con cái đều có cơ ngơi đuề huề, thành đạt. Chớ mà hồi trước, nhà ổng khổ lắm…”

Mùa hạn năm qua, vùng Sơn Nguyên ngút lửa trong nắng gió. Nhiều thửa mía cháy vàng, bị hỏng phân nửa. Thế nhưng vùng trang trại ông Miên vẫn xanh mướt, thoảng hương nước mát. Nhiều nông dân các nơi “bán tín bán nghi” kéo đến xem thử, rồi bị thuyết phục hoàn toàn trước mô hình tưới mía nhỏ giọt cho từng dãy mía mập mạp, “cao ngồng” của ông Miên. Gia chủ lại một bận đứng ra hướng dẫn cách lắp đặt, vận hành và… đãi bia đồng nghiệp.