Tin nông nghiệp

HỘI CHỢ NÔNG NGHIỆP QUỐC TẾ SIMA-THÁI LAN

 

Được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2015, với chuỗi sản phẩm đáp ứng riêng cho thị trường Đông Nam Á, chỉ sau 2 năm tổ chức, SIMA ASEAN đã thành công và nhận được sự đánh giá cao của giới chuyên môn, có 98% các nhà trưng bày và khách tham quan hài lòng về kết quả làm việc tại triển lãm. Năm 2016, SIMA đã đón tiếp hơn 13.000 khách tham quan đến từ 56 quốc gia. Việt Nam là một trong những nước có số lượng khách tham quan nhiều nhất.

Triển lãm năm nay hứa hẹn sẽ trở nên sôi động và hấp dẫn hơn, mang tới những giải pháp và công nghệ tiên tiến nhất cho ngành công nghiệp châu Á. Dưới sự đồng tổ chức của Bộ nông nghiệp Thái Lan và hỗ trợ từ hơn 20 hiệp hội chuyên ngành, SIMA ASEAN 2017 quy tụ 400 thương hiệu của 23 quốc gia, trưng bày trên diện tích 23.500m2 chia làm 18 lĩnh vực.

Song song với hoạt động trưng bày, nhiều chương trình khác cũng được tổ chức xuyên suốt 3 ngày triển lãm như chuỗi hội nghị, hội thảo chuyên ngành với sự góp mặt của các chuyên gia nông nghiệp hàng đầu Thái Lan và khu vực; chương trình “Nhà mua hàng VIP” (“VIP buyers”) với lịch làm việc B2B thiết kế riêng theo nhu cầu của từng doanh nghiệp tham dự; các buổi tham quan thực địa;…

Ngoài ra, SIMA ASEAN 2017 còn trình bày những công nghệ, sản phẩm mới nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, cập nhật xu hướng phát triển ngành để từng bước hướng tới kỷ nguyên “Nông nghiệp 4.0”.

Bộ phận phát triển thì trường của công ty TNHH Nông  Nghiệp và Thực Phẩm Nhà Bè đã tham gia với tư cách là VIP buyer với mục địch tìm kiếm thêm những sản phẩm tốt đưa về để phục vụ cho như cầu của bà con.

Theo nhận định chủ quan thì trên 50% doanh nghiệp tham gia hội chợ này đến từ Trung Quốc, với rất nhiều các chủng loại mặt hàng phục vụ trong Nông nghiệp. Nước chủ nhà Thái Lan cũng chỉ chiểm một phần khiêm tốn trong các gian hàng của hội chợ, các doanh nghiệp còn lại đến từ Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam (có 2 gian hàng). Các gian hàng từ Châu Âu và các nước phương Tây cũng rất ít.

Các sản phẩm được trưng bày tập trung nhiều vào các thiết bị tưới, các thiết bị hỗ trợ bà con trong việc trồng, chăm sóc và thu hoạch mùa màng.

Xin gửi đến bà con một số hình ảnh trong triển lãm Sima 2017

Robo dùng để phun thuốc cho cây từ trên cao
Các gian hàng Trung Quốc chiếm phần lớn trong hội chợ
Xe tưới tự cuốn khổng lồ của Ý
Các sản phẩm phục vụ cho việc tưới và chăm sóc cây trong gia đình
Một trong những sản phẩm đầu tưới của Đài Loan
2 gian hàng của Việt Nam

KỸ THUẬT ƯƠM GIỐNG, TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CÀ TÍM

Nghiên cứu mới đây cho thấy, thực phẩm rau quả như cà tím có tác dụng tuyệt vời đối với sức khỏe và giúp làm giảm nguy cơ béo phì và tỉ lệ tử vong, bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch hơn nữa còn tăng cường sức khỏe mang lại cho bạn làn da săn chắc và mái tóc khỏe mượt một cách tự nhiên.

Ngoài ra cà tím cũng là một loại thực phẩm quen thuộc trong mỗi hộ gia đình, và là một trong những cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, rất đáng để bà con đầu tư.

Xin giới thiệu đến bà con một số kinh nghiệm trong việc ươm giống, trồng và chăm sóc loại cây này.

Theo kinh nghiệm của nhiều nhà vườn cho thấy các tỉnh Nam bộ không nên trồng vào các tháng mùa mưa (tháng 5, tháng 6), các tỉnh phía Bắc không nên trồng vào các tháng 12, tháng 1 vì rất dễ bị sâu đục quả gây hại vào thời gian cây cho thu hoạch. Do vậy nên trồng vào vụ đông-xuân có thể trồng từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau và vụ hè-thu trồng từ tháng 4 đến tháng 7.

Gieo ươm cây giống: Do hạt cà có vỏ gỗ cứng tương đối dày nên trước khi gieo phải ngâm nước 24-30 giờ, vớt ra ngâm tiếp trong nước ấm 50 độ C (2 sôi, 3 lạnh, vừa để diệt nấm bệnh, vừa kích thích cho hạt nhanh nẩy mầm) 1 giờ, ủ trong vải ẩm cho nứt nanh rồi đem gieo trên liếp ươm hoặc trong túi bầu. Lượng hạt giống cần gieo để có đủ cây giống trồng cho 1.000 m2 là từ 30-40g. Gieo đều và thưa, cần tưới giữ ẩm cho đất 4-5 lần, tỉa bỏ những chỗ quá dày, những cây mọc yếu. Cây con có 5-6 lá thật, cao 6-8cm, khoẻ mạnh, thân mập đều là nhổ đem trồng ra ruộng.

Làm đất, bón lót, trồng cây:

Chọn các loại đất cát pha, đất thịt nhẹ, giàu mùn, tơi xốp, dễ thoát nước, có độ pH từ 6,8-7,2 là thích hợp nhất. Cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại và lên luống mui luyện rộng 1,2m, cao 20-25cm, rãnh rộng 30cm. Lượng phân bón lót cho 1.000 m2 bao gồm: 800kg phân chuồng hoai mục + 30kg supe lân + 5kg phân kali + 50kg tro bếp. Bổ hốc sâu 10-15cm thành 2 hàng trên mặt luống với khoảng cách: Hàng cách hàng 60cm, cây cách cây 70cm (mật độ khoảng 2000-2.500 cây/1.000 m2).Trộn đều các loại phân trên với nhau, bón theo hốc, trộn đều với đất, lấp bằng để 3-4 hôm mới trồng cây. Mùa mưa nên trồng thưa hơn sẽ cho năng suất cao hơn là trồng dày. Kinh nghiệm bà con Hải Dương, Nam Định là có thể trồng xen tỏi tây, hành lá và các loại rau ăn lá ngắn ngày vào giữa 2 hàng cà tím vừa tăng thêm thu nhập vừa hạn chế được cỏ dại trong giai đoạn đầu.

Chăm sóc:

Bón thúc lần 1 (10 ngày sau trồng): 5-6kg phân urê, 3-4kg phân KCl, 20-25kg khô dầu hoặc xác mắm;

lần 2 (25-30 ngày sau trồng): 7-8kg urê, 4-5kg KCl;

lần 3 (45-50 ngày sâu trồng): 8-10kg urê, 5-6kg KCl, 25-30kg bánh khô dầu hoặc xác mắm.

Sau khi thu hoạch lứa quả thứ 2 nên bón thúc thêm 5kg urê, 15-20 kg phân chuồng hoai mục hoặc bã mắm, khô dầu cho cà sai quả và có thể thu được nhiều lứa. Chú ý kết hợp làm cỏ, vun gốc cho cà vào các đợt bón thúc.

Cà Tím là cây ưa ẩm, nhưng không chịu được úng nên việc cung cấp nước tưới đúng và đủ rất cẩn thiết với loại cây này

Thường xuyên tưới đủ ẩm cho cà sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là thời kỳ ra hoa, nuôi quả. Có thể dẫn nước ngập 2/3 rãnh luống cho nước ngấm vào mặt luống khoảng 2-3 giờ rồi tháo cạn nước đi. Không để mặt luống bị khô, thiếu nước cà sẽ kém ra hoa, năng suất kém, trái nhỏ.

Để tránh tình trạng đất quá khô hoặc quá nhiều nước bà con có thể sử dụng các phương pháp tưới hiện đại, đang được phổ biến và phù hợp với cây cà tím đó là tưới nhỏ giọt, dùng các đầu tưới nhỏ giọt hoặc sử dụng dây tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống có lưu lượng nước phù hợp với nhu cầu của cây  trồng.

Tỉa nhánh, cắm giàn: Khi cây bắt đầu ra hoa nên tỉa bỏ bớt các cành nhánh dưới chùm hoa thứ nhất cho gốc được thông thoáng. Khi cà ra đợt hoa thứ 2 thì bấm ngọn, hãm cành hạn chế chiều cao để cho cà ra nhiều cành nhánh quả. Khi cà bắt đầu phân nhánh thì làm giàn bằng tre, nứa cho cà khỏi đổ.

– Chú ý kiểm tra sâu bệnh thường xuyên để có biện pháp phòng trị kịp thời. Các đối tượng gây hại chính là sâu xám, sâu ăn lá, bọ rùa 28 chấm, nhện đỏ, rệp… Dùng các loại thuốc trừ sâu như Ofatox, Dipterex, Regent… để phun trừ. Hạn chế độ ẩm trong luống, tránh để bị úng ngập nhằm tránh các bệnh hại do nấm và vi khuẩn như lở cổ rễ, thối gốc, chết ẻo, chết nhát… Có thể sử dụng các loại thuốc trừ nấm như Validacin, Score, Topsin M, Ridomil, Aliette… để phòng trừ ngay từ khi mới có triệu chứng ban đầu.

-Thu hoạch: Thu hái khi quả đã lớn đẫy, căng đều, vỏ bắt đầu chuyển từ màu tím sang tím nhạt. Cách 2-3 ngày thu chọn một lần, không để cà quá già kém chất lượng.

Để giống: Chọn những quả lớn đều, không sâu bệnh ở lứa quả thứ 2, thứ 3 để lại trên cây cho chín già làm giống. Thu về để thêm 1 tuần nữa cho chín hoàn toàn rồi mới bổ lấy hạt rửa sạch, phơi nơi thoáng mát cho khô hẳn để làm giống cho vụ sau

TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY MÍA

Cây mía và nghề làm mật, đường ở Việt Nam đã có từ xa xưa, nhưng công nghiệp mía đường mới được bắt đầu từ thế kỷ thứ XX. Tuy nhiên vùng nguyên liệu quy mô nhỏ bé, phân tán, chưa được đầu tư tương xứng với yêu cầu sản xuất công nghiệp. Chính vì vậy việc phát triển mía theo hướng thâm canh để đạt năng suất đường cao nhất trên một đơn vị diện tích là vấn đề thiết thực và đúng đắn. Để đạt được điều đó cần phải có biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ làm đất, chọn giống, trồng, bón phân, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.

– Thời vụ: thời vụ trồng mía thường vào đầu và cuối mùa mưa. Vụ đầu mùa mưa trồng trong tháng 4-5 để sau khi mía nảy mầm sẽ có đủ nước cho mía sinh trưởng, phát triển. Cuối mùa mưa nên trồng trong tháng 9 -11 tùy theo vùng kết thúc sớm hay muộn. Vụ trồng này giúp mía kết thúc nảy mầm bắt đầu đẻ nhánh khi sang mùa khô và chịu đựng được khô hạn để đầu mùa mưa sẽ phát triển nhanh.

– Đất: mía có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất pha cát, đất xám đến đất sét nặng. Riêng đối với một số loại đất như: đất nhiều cát, ít chất mùn, ít giữ nước – phân, dẽ chặt; Đất chua, nhiều phèn (sắt và nhôm); Đất mất chất hữu cơ, đất bị chai do tập quán đốt lá mía sau thu hoạch, ta phải tiến hành cải tạo bằng cách bón phân chuồng (trâu, bò),các loại tro dừa, tro rơm, tro trấu; Bón vôi, Đôlômít để hạ phèn hay bón các loại phân lân có tính kiềm như lân nung chảy, lân cải tạo đất. Có thể luân canh hoặc trồng xen canh cây họ đậu để làm đất tốt hơn.

– Làm đất: Tiến hành vệ sinh đồng ruộng để diệt trừ cỏ dại, mầm mống sâu bệnh, làm cho đất tơi xốp thông thoáng. Cày đất là khâu quan trọng giúp bộ rễ mía ăn sâu, chịu hạn, chống đổ và tăng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây. Cày lần đầu cần sâu khoảng 40 – 50 cm, bừa kỹ, dọn sạch cỏ rác. Bón 1 – 1,5 tấn vôi bột/ha trước khi bừa lần cuối.Khoảng cách hàng trồng tùy theo điều kiện chăm sóc. Nếu xới bằng máy khoảng cách 1 – 1,2 m, nếu chăm sóc thủ công có thể trồng dày hơn khoảng 0,8 – 1 m. Đào hộc: rộng 20 – 30 cm, sâu 20 – 30 cm. Bón lót toàn bộ phân nền hữu cơ, phân lân và thuốc Basudin trước khi đặt hom 1 – 2 ngày.

– Chuẩn bị hom mía: Giống mía có vai trò rất quan trọng trong thâm canh mía. Phẩm chất hom giống là yếu tố quan trọng quyết định năng suất mía. Nếu hom giống chất lượng kém thì các biện pháp kỹ thuật khác cũng tác động không đáng kể đến năng suất. Để có năng suất đường cao cần chọn những giống có chữ đường cao, năng suất cao như: ROC 25, ROC 27, ROC 16, MEX…Chọn hom ta nên chọn hom không sâu bệnh, không lẫn giống, không xây xát, không quá già và cũng không quá non (tốt nhất là từ 6 -8 tháng tuổi). Hom mía phải có từ 2-3 mầm tốt. Ngâm hom trong nước 8-24 giờ đối với giống nảy mầm chậm. Tiến hành chặt mỗi hom hai mắt mầm, chặt ngang giữa lóng, không chặt sát mầm. Hom chặt xong đem trồng ngay là tốt nhất. Một ha cần từ 4 – 6 tấn hom giống, cũng có thể trồng từ 8 – 10 tấn/ha tùy theo loại giống và chất lượng giống.

– Đặt hom: giống chuẩn bị xong là có thể đặt ngay. Hom đặt thành một hàng giữa rãnh mía, hai hom cách nhau từ 10 – 20 cm (tùy theo giống). Đối với nền đất ẩm khi đặt hom nên ấn nhẹ cho lún xuống nửa thân hom, để giữ ẩm cho mầm và rễ dễ phát triển. Ở nền đất khô, hom đặt xuống phải lấp một lớp đất mỏng để cố định hom và giữ ẩm.

– Xen canh cải tạo đất mía: Bốn tháng đầu khi mới trồng hoặc chặt mía, giữa 2 hàng còn trống nên trồng xen đậu vừa tăng thu nhập vừa nâng cao năng suất mía.

– Chăm sóc: sau khi trồng 1 – 1,5 tháng tuổi nếu phát hiện có chết hom (dài hơn 50cm) nên tiến hành trồng giặm để đảm bảo mật độ bên cạnh đó nên làm sạch cỏ ở giai đoạn cây con để cỏ không cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng với mía. Thực hiện kết hợp với 2 lần bón phân để vô chân cho mía.

+ Đánh lá mía: có thể đánh lá 3 lần cho mía tương ứng lúc mía khoảng 3, 6, 9 tháng tuổi (lúc này mía chuẩn bị thu hoạch).

Vườn mía sử dụng sản phẩm dây tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống của hãng Rivulis. Sản phẩm do Nhabeagri cung cấp.

+ Tưới nước: Bình quân trong vụ mía thường tưới từ 15-20 lần.

* Thời kỳ mía nảy mầm, đẻ nhánh: tưới 4 lần/ tháng.

* Thời kỳ đẻ nhánh làm lóng: 2-3 lần/tháng.

* Mía làm lóng: 1-2 lần/tháng.

Để đảm bảo việc tưới nước đúng thời điểm, liều lượng bà con có thể sử dụng hình thức tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống, tùy thuộc vào khoảng cách giữa các hom mía để chọn dây tưới cho phù hợp. Sử dụng các hình thức tưới này sẽ giúp bà con tiết kiệm được lượng nước tưới, kiểm soát được thời gian tưới cũng như định lượng chính xác lượng nước cho từng thời kỳ của cây mía.

* Mía sắp thu hoạch phải bỏ nước từ 20 ngày trở lên.

Lưu ý: Đất trồng mía không được để nước ngập úng, phải thoát nước nhanh không để đọng nước vào mùa mưa. Sau khi trồng 10-15 ngày nếu gặp mưa nên xới phá váng.

– Phòng trừ sâu bệnh: bà con nên rải Basudin với liều lượng 20 kg/ha vào rãnh mía trước khi đặt hom. Chú ý thường xuyên thăm đồng để chặt và tiêu hủy các cây mía bị sâu bệnh tấn công để tránh lây lan. Đối với đất mới khai hoang hoặc có mối dùng 20-30Kg thuốc Diaphos, Padan để rải. Một số loại sâu bệnh như: sâu đục thân, rệp có thể dùng Diaphos, Padan, Supracide, Trebon, Bascide xịt, rải vào gốc mía. Riêng trường hợp cây bị nhiễm bệnh than nên đưa cây ra khỏi ruộng và đốt để tiêu hủy mầm bệnh. Ngoài ra, bà con có thể tiến hành bóc lá để hạn chế sâu bệnh, rệp, chuột và hạn chế ra rễ trên thân. Một số sâu bệnh chính thường gặp như: bệnh thối đỏ, bệnh than đen, sâu đục thân, sâu hại gốc, rệp trắng…

– Thu hoạch: tùy từng giống mía ta trồng mà xác định được giai đoạn chín của mía. Quan sát màu da thân mía trở nên bóng, sậm, ít phấn, lá khô nhiều, độ ngọt giữa gốc và ngọn không chênh lệch là thu hoạch được. Dùng dao thật bén đốn sát gốc tất cả các cây trên hàng mía, để vụ sau mía tái sinh đều hơn. Thu hoạch đến đâu vận chuyển đến đó, không nên để lâu quá hai ngày lượng đường trong mía sẽ giảm.
(ST)

CÂY THUỐC QUÝ - TRINH NỮ HOÀNG CUNG

Trinh nữ Hoàng cung có nguồn gốc từ Ấn độ, được trồng rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á và cả ở phía Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam cây được trồng chủ yếu từ Quảng Nam- Đà Nẵng trở vào, sau này cũng được trồng ở một số tỉnh phía Bắc.

Cây trinh nữ hoàng cung có hình dạng giống như cây huệ biển hoặc cây náng tuy nhiên cây trinh nữ hoàng cung lại là dạng cây cỏ không có thân cây cứng chắc như cây náng.

Thân cây như củ hành tây to, có đường kính lớn từ 10-15cm.  Lá cây trinh nữ hoàng cung là những bẹ lá úp vào nhau thành hình cây giả có chiều cao 10cm.  Lá cây trinh nữ hoàng cung có màu xanh đậm, chiều dài từ 80-100cm, chiều rộng từ 5-8cm. Hai bên mép lá chính là gân lá song song hình sóng. Hoa của cây trinh nữ hoàng cung có màu trắng thành từng chùm, đôi khi có màu hồng phớt trông rất đẹp.

Cây trinh nữ hoàng cung được mọi người biết đến từ xa xưa với tác dụng  chữa bệnh u xơ, ung thư tử cung và ung thư tiền liệt tuyến.

Không những vậy, tác dụng của cây trinh nữ hoàng cung còn có hiệu quả điều trị bệnh viêm họng, bướu cổ, viêm loét dạ dày, phong thấp và cả mụn nhọt.

Nghiên cứu khoa học cho thấy, cây trinh nữ hoàng cung có chứ tới 32 alkaloids, chất này có tác dụng ức chế phân bào, ngăn ngừa sự phát triển của tế bào khối u, kháng khuẩn tốt, từ đó bạn có thể phòng ngừa và điều trị bệnh u xơ như bệnh u xơ tiền liệt tuyến, u xơ tử cung, khối u ở cổ hay u xơ vú.

Mặc dù công dụng chữa bệnh từ cây trinh nữ hoàng cung rất tốt nhưng khi sử dụng những bài thuốc từ cây này cần phải có một liều lượng đúng và tránh trường hợp nhầm lẫn cây trinh nữ hoàng cung với cây náng dẫn tới bệnh không thiên giảm mà còn có hại cho sức khỏe.

Trinh nữ hoàng cung là loại ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu bóng 1 phần, sinh trưởng và phát triển tốt ở điều kiện khí hậu nóng ẩm trung bình từ 22oC  đến 27oC, lượng mưa đạt 1500mm/năm. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh vào mùa xuân hè. Ở miền Bắc cây sẽ bị lụi tàn vào mùa Đông. Hàng năm cây có thể sinh thêm 6 đến 8 lá mới, và 3 đến 5 nhánh con. Sau 3 năm cây sẽ tạo thành khóm lớn, lên đến 20 nhánh ở các độ tuổi khác nhau

Ở Việt Nam cây chỉ ra hoa mà không đậu quả như ở Thái Lan và Ấn Độ nên không thu được hạt giống để trồng.

Trinh nữ hoàng cung ở Việt Nam được nhân giống bằng thân vào mùa xuân ở miền Bắc và đầu mùa mưa ở miền Nam. Chọn loại thân bánh tẻ, chưa ra hoa, không sau bệnh làm giống. Cây sẽ bắt đầu đẻ nhánh từ năm thứ 2 nên  tốc độ nhân giống tương đối chậm. Hiện nay đã có phương pháp nhân giống dòng vô tính bằng kỹ thuật nuôi cấy in-vitro.

Chọn đất trồng: Chọn loại đất thịt nhẹ hoặc trung bình, có khả năng giữ ẩm, đất cần cày bừa kỹ, để ải, bón lót cho mỗi ha từ 25 đến 30 tấn phân chuồng, 500kg supe lân, 300kg sulfat kali. Trộn đều phân với đất, đánh luống cao 25 đến 30cm, mặt luống rộng 0.8m. Trồng cây thành 2 hàng, mỗi hốc trồng 1 thân với khoảng cách 40x40cm. Cắt bỏ rễ, bớt lá, vùi đất vừa hết phần thân hành.

Thường xuyên làm cỏ,vun xới, tưới nước, giữ ẩm cho cây trồng Sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cho cây ngay trong thời kỳ đầu xuống giống sẽ giúp cung cấp đầy đủ lượng nước theo yêu cầu của cây đảm bảo cây không bị thừa hay thiếu nước.

Sau 40 đến 50 ngày sẽ bắt đầu bón thúc. Mỗi hecta dung 50kg ure pha loãng với nước. Nếu bà con đang dùng hệ thống tưới nhỏ giọt thì có thể kết hợp với thiết bị châm phân tự động để đưa phân hòa tan đến từng gốc cây một cách nhanh chóng và tiết kiệm.

Đến tháng 6, tháng 7 có thể bắt đầu thu hoạch lá, sau mỗi lần thu lá từ 25 đến 30 ngày lại bón thúc như trên. Thu lá bánh tẻ đến khi cây ngừng sinh trưởng.

Hàng năm khi cây chuẩn bị tăng trưởng trở lại cần bón thúc thêm phân, lượng bằng ½ lượng bón lót để duy trì độ phì và tơi xốp của đất

Có thể trồng xen một số loại cây họ đậu, kim tiền thảo hoặc Cam, Chanh, Quýt, Bưởi nhưng không được che bóng quá 30%.

THANH LONG VIỆT NAM CHÍNH THỨC ĐƯỢC PHÉP XUẤT KHẨU SANG NƯỚC ÚC

Sau trái Vải, được xuất khẩu sang thị trường Úc năm 2015, và trái Xoài năm 2016, ngày 24/8/2017 Thanh long tươi sẽ là trái cây tiếp theo được Bộ Nông Nghiệp và Tài nguyên nước Úc cho phép được nhập khẩu vào  thị  trường nước này. Đến thời điểm hiện tại Việt Nam là nước đầu tiên và duy nhất được cấp phép nhập khẩu Thanh long tươi vào Úc

Mùa vải năm 2016, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu được khoảng 30 tấn vải thiều vào thị trường Úc và năm nay dự tính đạt khoảng 100 tấn. Trong năm 2017, ngoài vải thiều, quả xoài của tỉnh Sơn La cũng sẽ được xử lý chiếu xạ để xuất khẩu sang Úc.

​Bộ Công Thương cho biết, để có thể xuất khẩu vào thị trường Úc, doanh nghiệp xuất khẩu phải đảm bảo hàng loạt các quy định khắt khe.

Cụ thể, trước khi nhập khẩu vào Úc, doanh nghiệp cần có giấy phép hợp lệ do Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước Úc cấp. Muốn có giấy phép, doanh nghiệp nhập khẩu cần nộp đơn xin phép nhập khẩu.

Là mặt hàng trái cây xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,năm 2016 với kim ngạch xuất khẩu Thanh long  đạt 895,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 50,3% trong xuất khẩu trái cây tươi và 36,1% trong tổng xuất khẩu rau quả của Việt Nam.

Thanh long tươi là một trong những mặt hàng nông nghiệp được ưu tiên hàng đầu để tiếp cận thị trường Úc. Úc cũng đang đẩy nhanh tiến độ xét duyệt cho các loại quả tươi khác của Việt Nam vào thị trường Úc.

Trước khi xuất khẩu, thanh long phải được Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam kiểm dịch và cấp giấy chứng nhận không bị nhiễm côn trùng trong diện kiểm soát an toàn sinh học (kiểm dịch). Thanh long phải có nguồn gốc, sản xuất và xuất khẩu từ Việt Nam phù hợp với các điều kiện và chương trình có liên quan.

Đáng lưu ý, thanh long tươi từ Việt Nam phải được xử lý trước khi vận chuyển hàng bằng phương pháp nhiệt hơi (VHT) với thời gian 40 phút ở nhiệt độ 46,5 độ C, độ ẩm 90% trở lên tại một cơ sở xử lý được Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam phê duyệt.

Hàng hoá phải không có côn trùng và bệnh dịch và không được lẫn các chất ô nhiễm, bao gồm lá cây, cành cây, đất, hạt cỏ dại, mảnh vụn và các loại thực vật khác trừ 1cm cuống của quả thanh long.

Bao bì phải được làm từ vật liệu tổng hợp hoặc vật liệu chế biến cao nếu có nguồn gốc thực vật. Bao bì không được làm bằng nguyên liệu thực vật chưa qua chế biến chẳng hạn như rơm.

Các thùng carton hoặc kiện hàng đơn lẻ phải được dán nhãn với một số nhận dạng duy nhất để thuận tiện cho việc truy xuất nguồn gốc. Kiện hàng phải được buộc chắc chắn.

Sản phẩm đã được xử lý phải được bảo vệ khỏi các côn trùng gây hại trong quá trình đóng gói và sau khi đóng gói, xử lý, lưu kho và vận chuyển giữa các địa điểm. Sản phẩm đã được kiểm tra và chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải được duy trì trong điều kiện an toàn để không bị lẫn với trái cây xuất khẩu đi các thị trường khác hoặc để tiêu thụ tại thị trường trong nước.

Container phải được kiểm tra bởi Cục Bảo vệ Thực vật Việt Nam trước khi xếp hàng để đảm bảo không có côn trùng và các lỗ thông hơi phải được phủ kín không cho côn trùng xâm nhập.

Bộ Nông nghiệp Úc có thể rà soát chính sách nhập khẩu bất cứ lúc nào sau khi thương mại bắt đầu hoặc khi tình trạng sâu bệnh và kiểm dịch thực vật tại Việt Nam bị thay đổi.

 Theo Phương Dung (Dantri)

HOA CÚC- HOA THỊNH VƯỢNG

Chúng ta thường thấy Hoa cúc xuất hiện trong bộ tranh Tứ quý: mai, trúc, cúc, tùng (xuân, hạ, thu, đông). Xuất phát từ văn hóa Nho giáo, bộ tranh này là biểu trưng cho người quân tử.

Hoa cúc với đặc điểm “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa” (lá không rời cành, hoa không rụng xuống đất) đã hàm ý tượng trưng cho khí tiết kiên trung của người quân tử.

Ngoài ra hoa cúc lại là biểu hiện của lòng hiếu thảo, sự thịnh vượng, thêm phúc, thêm lộc và niềm vui. Do vậy đây là loại hoa được dân ta rất ưa chuộng, nó xuất hiện hàng ngày trong mỗi gia đình, mỗi dịp lễ tết quan trọng.

Cúc là loại hoa có màu sắc phong phú, hình dáng đa dạng và đặc biệt rất lâu tàn, đến nay đã có trên thế giới đã có trên 1500 giống hoa cúc khác nhau, và ở Việt Nam có khoảng 70 loại.

Hoa Cúc thường được trồng và mùa xuân, vụ hoa bắt đầu vào tháng 8 âm lịch để phục vụ hoa vào dịp lễ tết.

Nhưng nhu cầu về loại  hoa này rất thường xuyên, nên hiên nay hoa có thể được trồng vào bất kỳ một thời điểm nào trong năm.

Việc nắm bắt được thời điểm xuống giống, cách chọn giống và khâu làm đất là yếu tố quan trọng cho sự sinh trưởng và phát triển của cây.

  1. Chọn giống: Chọn giống khỏe mạnh, độ cao đồng đều từ 4-5cm, rễ dài 1-2cm, cây to khỏe, lá xanh, không sâu bệnh.
  2. Đất: đất tơi xốp, thoáng, dễ thoát nước. Nên bón lót 15 đến 20 ngày trước khi trồng cây. Bón phân chuồng để cải tạo đất, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho đất.
  3. Hoa cúc là loại cây háo nước, ưa sống ẩm nên việc tưới nước phải thường xuyên và đảm bảo đủ nước. Đặc biệt, khoảng 7 – 10 ngày, bà con lại tưới nước vào rãnh để nước ngập 2/3 rảnh trong khoảng 1-2 giờ. Sau đó thì tháo nước để tránh bị úng, còn tưới mặt thì phải làm thường xuyên, không được để mặt luống khô nước. Ngoài các biện pháp tưới thủ công bà con còn có thể áp dụng các biện pháp tưới hiện đại như tưới nhỏ giọt trải dọc theo luống, với phương pháp tưới này bà con có thể chủ động được lưu lượng cũng như thời gian tưới, đảm bảo được lượng nước thích hợp cho cây, lại tiết kiệm nước, cũng như nguồn nhân công phục vụ cho việc tưới cây
  4. Muốn cây ra nhiều hoa phải tiến hành bấm ngọn, bỏ đi 1-2 búp trên thân cây chính, chỉ bấm 1 lần, để lại 3-4 cành, mỗi cành 1 bông. Thường xuyên tỉa bỏ những cành, nụ không cần thiết, đảm bảo vệ sinh luống hoa luôn sạch sẽ, loại bỏ lá úa, thối để tránh cây bị mắc bệnh nấm rệp.
  5. Làm cọc đỡ cho cây khi cây cao từ 35-45cm để cảm bảo cây mọc thẳng, đều đẹp
  6. Đến thời điểm thu hoạch nên bón dung dịch phân lân và kali ở nồng độ thấp trước đó 7 đến 10 ngày, đồng thời phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, Thu hoạch hoa lúc sáng sớm và chiều mát.

Hy vọng bài viết sẽ giúp cho bà con có thêm những kiến thức trong việc trồng hoa Cúc, loài hoa của Thịnh vượng.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 3: chăm sóc tiêu sau trồng.

Phần 1: Chọn trụ tiêu

Phần 2: Chuẩn bị đất trồng & cách trồng cây

Ở bài viết trước ta đã đề cập đến vấn đề  tủ gốc và che mát cho tiêu ngay sau trồng, nhưng ngoài vấn đề tủ gốc và che mát cần chú ý tưới nước hằng ngày cho đủ ẩm. Nếu gặp mưa lớn phải khơi rãnh cho thoát nước, không để gốc tiêu bị đọng nước. Sau khi trồng 15 ngày phải kiểm tra để phát hiện cây chết và dặm ngay. Cây để trồng dặm được giâm tước trong bầu đất để lớn đều với cây khác, không dặm bằng hom. Nếu 1-2 năm cây mới chết thì kéo dây gần đó chôn xuống đất cho thành cây mới lắp chỗ trống.

Trồng xen: Trồng xen là một trong những biện pháp chăm sóc, hổ trợ sự phát triển của cây tiêu.

Đối với cây tiêu mới trồng bằng nọc chết, khi cây còn nhỏ có thể trồng xen hoa màu ngắn ngày để che phủ đất chống khô hạn hoặc xói mòn, có thêm thu nhập hoặc làm phân xanh. Các cây nên trồng xen là cây họ đậu (đậu nành, đậu xanh, đậu phộng để thêm đạm cho đất). Ngoài ra có thể trồng xen các cây hoa màu khác như bắp, khoai lang, chuối…Khi cây tiêu lớn bò lên tới đỉnh trụ thay cây trồng xe bằng cây che phủ đất họ đậu như đậu mèo, muồng hoa vàng, sục sạc, Kudzu…để giữ ẩm cho đất và làm phân xanh. Chú ý bón phân cho cây trồng xen để giữ độ phì cho đất.

Cây tiêu còn có thể trồng xen trong vườn dừa hoặc cây ăn quả khác nhưng cần chú ý khoảng cách của cây trồng chính sao cho có đủ ánh sáng thích hợp và chất dinh dưỡng cho cây tiêu phát triển.  Muốn vậy khoảng cách giữa các hàng dừa và cây ăn quả ít nhất là 8m. Có thể dùng cây ăn quả, cây dừa làm trụ sống cho tiêu bò lên, gốc tiêu phải cách gốc cây trên 2m. Trong các vườn cà phê có trồng cây che bóng cũng có thể trồng xen tiêu cho leo lên cây che bóng nhưng phải đốn tỉa cây che bóng làm sao cho cây vẫn có tác dụng che bóng cho cây cà phê mà vẫn đảm bảo đủ ánh sáng cho cây tiêu. Bón đủ phân cho tiêu và cây trồng chính cũng là lưu ý quan trọng để tránh sự cạnh tranh về chất dinh dưỡng.

Tưới tiêu nước cho tiêu: Nước có vai trò rất quan trọng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây tiêu. Tiêu thích ẩm nhưng không chịu được úng vì vậy việc tưới nước và tiêu nước đều rất cần thiết.

Tưới nước: Mùa nắng là thời gian khô hạn, lúc này cây tiêu lại đang ra hoa và có quả non rất cần nước . Nếu thiếu nước, cây sẽ phát triển chậm, bị rụng hoa và rụng quả nhiều, giảm năng suất rõ rệt. Đắp bờ tạo thành bồn xung quanh gốc có đường kính từ 1-1,5m, cao 10-15cm. Tưới nước trực tiếp vào gốc hoặc tưới phun lên tán cây cho đầy 2/3 bồn, không phun nước mạnh vào gốc để tránh làm trơ rễ tiêu. Đối với tiêu kinh doanh thì 7-10 ngày tưới một lần, tiêu nhỏ thì 2-3 ngày tưới 1 lần. Nếu nắng nhiều, nước khô thì lượng nước tưới phải nhiều hơn. Đối với yêu cầu nước như trên tưới nhỏ giọt cho tiêu được đánh giá là phương pháp tối ưu và hiệu quả nhất. Tưới nhỏ giọt đảm bảo lượng nước tưới cho tiêu đầy đủ, chính xác hơn, bên cạnh đó còn có thể kết hợp cả châm phân tự động, giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức chăm sóc tiêu. Mô hình tưới nhỏ giọt cho tiêu còn giúp hạn chế cỏ dại, sâu bệnh, tiết kiệm nước…

Tuoi nho giot cho cay hồ tiêu– Tiêu nước: Trong mùa mưa cần tạo điều kiện thoát nước tốt cho vườn tiêu, không  để gốc tiêu bị đọng nước.Bị đọng nước rễ tiêu sẽ kém phát triển, dễ bị nấm bệnh gây thối rễ, cây sinh trưởng kém và có thể chết hàng loạt. Kinh nghiệm nhiều nơi cho thấy rằng sau khi mưa 2-3 giờ mặt đất đã khô nhưng đào sâu xuống 20-30cm mà vẫn có ứ nước thì đã có ảnh hưởng, cần khơi rãnh tháo nước ngay. Để chủ động thoát nước trong vườn tiêu kể cả nơi dất dốc cần đào mương nhỏ hoặc khơi rãnh nông dọc giữa các hàng tiêu, lượng đất đào lên dùng đắp vào gốc tiêu.

Tủ gốc cũng là biện pháp giữ ẩm tốt tiêu trong mùa nắng, nhưng mùa mưa thì cần kéo rơm rác ra xa gốc để không bị đọng nước, quá ẩm.

Bón phân cho tiêu:

Đối với phân hữu cơ, nguyên tắc sử dụng là phải bón phân đã ủ hoai mục và bón lót là chính, ngoài ra 1-2 năm bón bổ sung 1 lần. Lượng phân hữu cơ bón lót cho 1 hố trước khi trồng là 10-20kg , tuỳ đất xấu hay tốt. Phân bón lót thường dùng  là phân trâu, bò hoai, mỗi hố trộn thêm 0,3-0,5kg supper lân.

Đối với thời kì cho thu hoạch phân hữu cơ được bón theo rãnh đào xung quanh mép tán tiêu, rãnh sâu và rộng 30cm. có thể bón vào đầu hoặc cuối mưa, liều lượng trung bình 10kg/trụ.

Đối với phân hoá học: Phân hoá học thường chia bón thành 3-4 lần trong năm. Tác dụng lần bón đầu là thúc đẩy quá trình ra lá non và hoa, lần 2 và 3 để nuôi quả, lần thứ 4 chủ yếu duy trì sự sinh trưởng phát triển của cây, tích luỹ chất dinh dưỡng cho mùa quả sau.

Theo GS. Phân Quốc Sủng, lượng phân bón nguyên chất tối đa cho 1ha hồ tiêu ở thời kỳ kinh doanh có thể như sau:

Đạm (N): 200kg – Lân (P2O5): 300kg – Kali (K2O): 250kg. Lượng phân này chia bón làm 3-4 lần trong năm:

  • Lần 1: Đầu mùa mưa bón 25% lượng phân cả năm
  • Lần 2 và 3: Bón trong mùa mưa, cách nhau 2 tháng, chiếm 50% lượng phân cả năm.
  • Lần 4: bón vào mùa khô lượng phân còn lại 20-25%

Phân vi lượng và phân bón lá: Trong thực tế và nhiều thí nghiệm ở các vùng trồng tiêu đều cho thấy nếu được bón thêm phaanvi lượng sẽ giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn và tăng năng suất. Một số phân bón hữu cơ sinh học có chứa các vi lượng có thể dùng cho cây tiêu như: Komix, Grow More, Humix…

 

Một số biện pháp chăm sóc khác:

  • Buộc dây tiêu vào trụ: Sau khi trồng nếu dây tiêu dài khoảng 25-30cm đã vươn tới trụ cần dùng dây mềm buộc dây tiêu cho dính vào trụ. Buộc ở vị trí gần đốt của cây tiêu để rễ mau bám vào trụ. Thường xuyên buộc cho đến khi dây tiêu bò cao hết trụ, mùa mưa 5-7 ngày buộc 1 lần, mùa khô 10 ngày buộc 1 lần/
  • Xén tỉa và đốn dây: Trong 1-2 năm đầu tiên nên tỉa các cành ác (cành cho quả) để tập trung dinh dưỡng cho cây sinh trường tốt, cho năng suất cao ở những năm sau.
  • Tỉa hoa: Những cây tiêu trồng từ thân chính thì đến năm thứ 2 đã có 1 số cành ác cho ra hoa (trái chiến). Các gié hoa này nếu để lại sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và các năm sau vì vậy phải tỉa bỏ. Sau đợt hoa chính, một số hoa ra muộn sẽ cạnh tranh dinh dưỡng của đợt hoa chính và cành ác năm sau, và các hoa này cũng thường bị rụng và không đậu quả nên cần tỉa bỏ.
  • Làm cỏ, vun gốc: Vườn tiêu cần làm sạch cỏ, thông thoáng, nhất là khu vực quanh gốc để cỏ dại không tranh chấp nước, chất dinh dưỡng với tiêu. Hằng năm kế hợp làm cỏ và bón phân nên dùng đất mặt vun gốc cao 10-15cm.

Xén tỉa cây trụ sống: Cần chú ý xén tỉa cây trụ sống vào mùa mưa để đảm bảo đủ ánh sáng, mùa nắng trừ trường hợp tán cây trụ quá rậm thì nên hạn chế xén tỉa nhiều để điều hoà ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm cho vườn tiêu.

(Tài liệu tổng hợp theo sách Bác sĩ cây trồng, KS.Nguyễn Mạnh Chinh-TS. Nguyễn Đăng Nghĩa)

CÂY ĐINH LĂNG, VỊ THUỐC QUÝ

Cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa) thuộc họ Ngũ gia bì là loài cây này là một loại dược liệu quý bởi con người có thể sử dụng được toàn bộ cây từ rễ, củ, cành và lá để làm thuốc trị bệnh, bồi bổ sức khoẻ và làm gia vị cho các món ăn.

Đinh lăng thuộc loại cây nhỏ, cao khoảng 0,8-1,5m, thường được trồng làm cây cảnh trước nhà hoặc chùa, miếu. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành tán. Quả dẹt, dài 3-4mm, dày khoảng 1mm. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian gọi nôm na là mùi “thuốc bắc”. Lá tươi không có mùi thơm này.

Đinh lăng là cây sống nhiều năm, ưa ẩm, ưa sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng nhưng không chịu úng ngập. Cây có biên độ sinh thái rộng, phân bố trên khắp các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát, và phát triển tốt nhất ở nhiệt độ dưới 25 độC

Trong dân gian Đinh lăng đước chia thành 2 loại: Đinh lăng nếp và đinh lăng tẻ

Đinh lăng nếp là loại lá nhỏ, xoăn, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ bì dày cho năng suất cao và chất lượng tốt, đây là loại hay được chọn để làm giống.

Đinh lăng tẻ là loại lá sẻ thùy to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít và cứng, vỏ bì mỏng, năng suất thấp. Loại này bà con không nên trồng.

Chuẩn bị trồng

Đinh lăng là loại cây không ưa đọng nước, phát triển tốt ở vùng đất pha cát, tơi xốp, có độ ẩm trung bình. Khi trồng đại trà, diện rộng, bà con phải cày bừa làm đất tơi, lên luống cao 20cm, rộng 50cm. Nếu ở vùng đồi, người trồng phải cuốc hốc sâu 20cm, đường kính hố 40cm. Đinh lăng trồng bằng cách giâm cành và có thể trồng được cả bốn mùa nhưng tốt nhất là giữa xuân.

Thời vụ: Bà con nên trồng vào mùa xuân, từ tháng 1-4. Vào mùa hè, cây được trồng cần phải giâm hom giống 20-25 ngày cho ra rễ mới đem trồng. Người trồng có thể giâm cành bằng cách đem hom cắm xuống đống cát để trong bóng mát, khoảng cách trồng: 40 x 50 cm hoặc 50×50 cm. Mật độ của cây là khoảng 40.000 đến 50.000 cây/ha.

Phân bón và kỹ thuật bón phân

Bón lót: Mỗi hecta, bà con nên bón lót 10- 15 tấn phân chuồng, 400- 500 kg phân NPK, bón toàn bộ lượng phân lót, tránh bón sát và hôm giống.

Bón thúc: Ở năm đầu, vào tháng 6 sau khi trồng, cây cần được bón thúc 8kg urê/sào bằng cách rắc vào má luống rồi lấp kín. Cuối năm thứ 2, vào tháng 9 sau đợt tỉa cành, cây nên được bón thêm phân chuồng 6 tấn/ha và 300 kg NPK+100 kg kali. Ngoài ra bà con cần bón thúc vào mùa thu, vun đất phủ kín phân bón để cây có điều kiện phát triển mạnh vào năm sau

Kỹ thuật trồng

Bà con đặt hom giống cách nhau 50cm, đặt nghiêng hom theo chiều luống, giữa các hom bón lót bằng phân chuồng 4kg/sào và 20kg phân NPK (tránh bỏ phân sát hom giống), sau đó lấp hom, để hở đầu hom trên mặt đất 5cm. Khi trồng xong, bà con nên phủ rơm rạ hoặc bèo tây lên mặt luống để giữ độ ẩm và tạo mùn cho đất tơi xốp. Nếu đất khô, bà con phải bơm nước ngập 2/3 luống hoặc tưới nước đảm bảo độ ẩm cho đất trong vòng 25 ngày nhưng không được để ngập nước, nếu trời mưa liên tục phải thoát nước ngay để tránh thối hom giống. Có hai cách trồng. Hoặc bà con có thể sử dụng các phương pháp tưới nhỏ giọt để vừa đảm bảo được lượng nước cho cây, vừa không để có hiện tượng ngập úng.

Một là kết hợp làm cảnh và thu dược liệu: Người dân có thể trồng thành từng hốc hoặc từng hàng thẳng tắp hoặc theo hình dáng tuỳ thích (hình thoi, vòng tròn, vòng ô voan…)

Trồng từng hốc: Người trồng đào hốc có đường kính 1m, sâu 35-40cm, lót đáy hố bằng miếng PE hay nilon cũ (để rễ cây tập trung trong hố, khi thu hoạch sẽ lấy gọn cả bộ rễ một cách dễ dàng). Sau đó, người dân trộn đất với phân chuồng hoai mục (10kg) cho đầy hố, nén đất xuống rồi trồng cây đã ươm vào, ba cây một hố theo hình tam giác đều, cây cách cây 50cm. Cây cần được tưới nước và ấn chặt đất xung quanh gốc, người chăm nên vun đất tạo thành vồng có rãnh thoát nước xung quanh. Nếu có, bèo tây ủ vào gốc để giữ ẩm là tốt nhất. Bà con cũng có thể sử dụng biện pháp tưới nhỏ giọt cho cây để đảm bảo được độ ẩm cho đất cho rễ, tránh tình trạng tưới quá nhiều ngập ngập úng, làm chết cây.

Trồng theo hàng thẳng hoặc tạo hình dáng: Bước đầu tiên là bà con đào băng rộng 40cm, sâu 35-40cm,  lót nilon cũ hoặc PE cũ xuống đáy và trồng cây như trên (không đặt cây theo hình tam giác đều mà chỉnh theo hàng thẳng hoặc hình dáng định trồng).

Hai là trồng trên diện tích lớn: Bà con cần làm luống rộng 60cm, cao 35-40cm, bổ hốc thành hai hàng lệch nhau, cây cách cây 50cm. Bước tiếp theo là bà con cho phân hoai mục xuống, lấp đất mỏng, đặt cây đã ươm  vào trồng, tưới nước rồi ấn chặt đất quanh gốc. Nếu cây được trồng trên đất dốc, người trồng phải làm luống theo đường đồng mức để tránh trôi màu, hạn chế thoát nước nhanh sau khi mưa. Với địa hình đồi dốc thì biện pháp tưới nhỏ giọt bằng dây bù áp là rất phù hợp, đảm bảo lượng nước đồng đều ở các độ cao khác nhau.

Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh

Đinh lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn, ít sâu bệnh. Hầu như không cần sử dụng thuốc BVTV. Từ năm thứ 2 trở đi, người chăm cần tỉa bớt lá và cành, mỗi năm 2 đợt vào tháng 4 và tháng 9. Mỗi gốc chỉ nên để 1-2 cành to.

Đinh Lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn và ít bị sâu bệnh hại. Giai đoạn đầu mới trồng, cây thường bị sâu xám cắt lá mầm và ăn vỏ thân, giai đoạn cây phát triển mạnh hầu như không bị sâu hại.

Trong giai đoạn đầu, bà con cần chú ý phòng từ kịp thời tránh ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây. Người chăm bón có thể dùng thuốc hoặc bắt sâu bằng tay vào sáng sớm hoặc chiều muộn. Ngoài ra, bà con có thể dùng một số loại thuốc phòng trừ sâu xám như sau: Dùng thuốc đơn TP-Pentin 18EC, Basudin 50EC; Shecpain 36EC, Gottoc 250EC hoặc phối hợp hai loại thuốc khác nhau: Diptere 80WP + Karate 2,5EC, Sevin 40% + Sherpa 25EC, Ganoi 95SP + Abamectin 36EC, Regent 800WG + Sokupi 0,36AS… hoặc dùng một trong các loại thuốc sâu dạng hạt, bột như: Basudin 10H, Vibasu 10G, Furadan 3G, Regent 3G… trộn một phần thuốc với 10 phần đất bột khô rắc vào quanh gốc cây khi cấy trồng có tác dụng phòng trừ sâu xám rất tốt.

Thu hái, chế biến, bảo quản

Lá: Khi chăm sóc, người trồng cần tỉa bớt lá chỗ quá dầy. Khi thu vỏ rễ, vỏ thân , người thu nên thu hoạch lá trước, sau đó mới chọn hom giống. Lá thu được đem hong gió cho khô là tốt nhất (âm can), cuối cùng sấy cho thật khô.

Vỏ rễ, vỏ thân: Người nông dân có thể thu hoạch vào cuối thu năm thứ 2 (cây trồng 5 năm có năng suất vỏ rễ vỏ thân cao nhất). Rễ và thân câycần được rửa sạch đất cát, cắt rời rễ lớn, hong gió một ngày cho ráo nước (giúp bóc vỏ dễ hơn) để riêng từng loại vỏ thân, vỏ rễ sau khi bóc. Rễ nhỏ có đường kính dưới 10mm không nên bóc vỏ, loại đường kính dưới 5mm nên để riêng. Rễ cần được phơi, sấy liên tục đến khi khô giòn.

Phân loại: Loại I là vỏ, rễ cây loại có đường kính (lúc tươi) từ 10mm trở lên. Loại II là vỏ thân và vỏ rễ có đường kính dưới 10mm (vỏ thân gần gốc dày trên 2mm). Loại III là các loại rễ và vỏ thân mỏng dưới 2mm.

Sưu tầm

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 2 chuẩn bị đất trồng, cách trồng cây

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 2: chuẩn bị đất trồng, cách trồng cây.

Phần 1: Chọn trụ trồng tiêu

Sau khi đã chuẩn bị trụ trồng tiêu việc tiếp theo bạn cần làm là chuẩn bị đất trồng cũng như thiết kế khu vườn tiêu của mình.

Có một vài lưu ý như:

– Thiết kế vườn tiêu: Ở nơi trống gió cần trồng hàng cây chống gió. Cây chắn gió thường dùng là muồng đen, tràm bông vàng, keo tai tượng, xà cừ. Giữa hàng cây chắn gió và vườn tiêu phải đào mương để thoát nước và tránh lễ cây lan vào vườn. Tuỳ diện tích vườn lớn nhỏ mà chia thành từng lô, diện tích mỗi lô trên 2000 m2, giữa các lô có đường đi lại. Nếu vườn nhỏ thì đào mương, lên liếp để trồng và thường dùng trụ sống.

– Làm đất: Nếu vườn có cây cũ cần đào hết gốc rễ. Cày đất sâu 25-30cm. Đất chua thì rải vội, đất có nhiều mối thì rải thuốc sâu. Sau đó bừa đất nhỏ, nhặt hết rễ cây và cỏ dại. Cày đất trước khi trồng khoảng 1 tháng để phơi tải.

– Đào hố, đắp mô trồng: Sau khi làm đất, dựa vào khoảng cách trồng để định vị trí cắm trụ và đào hố đắp mô. Ở vùng đất cao, mực nước ngầm sâu thì đào hố để trồng. Mỗi trụ đào 1 hoặc 2 hố 2 bên. Hố có kích thước rộng và sâu 40-60cm, đất xấu thì đào hố rộng. Hố cách trụ 20-30cm. Bón lót cho mỗi hố 10-15kg phân hữu cơ hoai mục, trộn với ít đất mặt và 100g super lân đủ lắp đầy hố, hơi cao hơn mặt đất một chút. Nên trộn thêm vào phân lót cho mỗi hố 50g thuốc sâu Diaphos 10g hoặc Vifuran 3H. Hố cần đào thẳng hàng và tiến hàng trước khi trồng 1-2 tháng.

Nếu trụ tiêu xây gạch thì đào xung quanh trụ một rãnh rộng 40cm, cách chân trụ 20-30cm, cũng dùng đất mặt và phân bón lấp đầy.

Ở vùng đất thấp, mực nước ngầm cao như ở Đồng bằng sông Cửu Long , sau khi đào mương liên tiếp thì đắp mô trên liếp để trồng. Mô có đường kính chân khoảng 1m, cao 0,5m. Dùng đất khô trộn với phân hữu cơ hoai mục để đắp mô. Trên mỗi liếp có thể đắp 1-2 hàng mô tuỳ diện tích mặt liếp. Mô cũng cần làm trước khi trồng 1-2 tháng..

Sau khi chuẩn bị đất trồng thì bạn tiến hành trồng cây thôi:

Về thời vụ trồng: thời vụ trồng thay đổi theo điều kiện khí hậu từng vùng. Nói chung nên trồng vào đầu mùa mưa (miền Trung trồng vào tháng 7-9; Tây Nguyên trồng tiêu từ tháng 5-7; Đông Nam Bộ trồng tháng 6-8; ĐBSCL từ tháng 5-8).

– Khoảng cách trồng: Khoảng cách trồng thích hợp tuỳ theo loại trụ, giống tiêu và số hom/trụ.

+ Nếu trụ bằng cây chết hoặc cột xi măng, giống tiêu sẻ: trồng khoảng cách 1,8-2m, trồng 2hom/trụ (2.770/ha). Với giống tiêu lá lớn khoảng cách là 2x2m, 2 hoặc 3 hom/trụ (2.500 trụ/ha).

+ Trụ xây gạch: khoảng cách rộng hơn 3×3,5m hoặc 3,5×3,5m (810 -950 trụ/ha), mỗi trụ trồng 8-12hom.

+ Trụ sống: trồng khoảng cách 2×2,5m hoặc 2,5×2,5m (1.600-2000 trụ/ha), 2-3 hom/trụ.

Ở vùng ĐBSCL do phải đào mương lên liếp nên mật độ chỉ khoảng 1.700 trụ/ha.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 2 chuẩn bị đất trồng, cách trồng cây

Lưu ý: Không nên trồng dày vì trồng dày tiêu sẽ cho ít quả, cành quả có lóng dài, ít gié quả, tỉ lệ đậu quả thấp, thưa quả và quả nhỏ, thường bị hiện tượng bồ cào.

-Về cách trồng: Trước khi đặt cây hom dùng cuốc xới đều đất trong hố. Moi giữa hố hoặc mô 1 hốc nhỏ vừa đặt bầu tiêu. Đặt hom tiêu nghiêng về phía trụ một góc 45◦, nếu đặt nhều hom thì các hom cần cách nhau 10-15cm. Mặt bầu ngang mặt đất. Đặt hom xong dùng đất mặt tơi nhỏ lắp bằng mặt bầu. Nếu là hom không có bầu thì chôn ngập 3 mắt hom dưới hố (hom 5-6 mắt). Dùng chân nén nhẹ đất quanh gốc tiêu, dùng rơm rác, cỏ khô ủ quanh gốc và tưới nước ngay.

Nên trồng buổi chiều, lúc trời râm mát để cây con dễ sống. Sau khi trồng nên che bóng mát cho tiêu bằng các vật liệu đơn giản như lá dừa, lá chuối hoặc dùng lưới ni lông.

Công việc tiếp theo và cực kỳ quan trọng bạn phải lưu ý làm tốt để cây tiêu cho năng suất tốt đó là quá trình chăm sóc cây tiêu sau khi trồng. Quá trình chăm sóc bao gồm nhiều việc như trồng xen, tưới nước cho cây, bón phân, cắt tỉa, làm cỏ, vun gốc…Những lưu ý cơ bản trong quá trình chăm sóc tiêu sau trồng được chia sẻ trong bài Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 3: chăm sóc tiêu sau trồng.

(Tài liệu tổng hợp theo sách Bác sĩ cây trồng, KS.Nguyễn Mạnh Chinh-TS. Nguyễn Đăng Nghĩa)

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 1: chọn trụ tiêu.

Trụ tiêu là cây chống đỡ để tiêu bám vào đó trong suốt đời sống. Có 2 loại trụ tiêu là trụ sống và trụ chết.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

1.Trụ sống: Là cây đang sống để cho tiêu bám vào. Dùng cây sống làm trụ tiêu có ưu điểm là dễ kiếm và dễ nhân giống bằng hạt, bằng cành, che bóng một phần cho tiêu còn nhỏ, lá cây rụng xuống giúp tăng chất hữu cơ cho đất. Nhược điểm là cạnh tranh một phần nước và chất dinh dưỡng của cây tiêu, hằng năm tốn công xén tỉa, mật độ trồng tiêu thường thưa, cây trụ sống có thể là nơi ẩn náu, lan truyền sâu bệnh.

Cách khắc phục nhược điểm: Cây dùng làm trụ sống phải có cọc ăn sâu để bớt cạnh tranh dinh dưỡng và nước, có tuổi thọ dài (trên 30 năm), vỏ nhám và không bị tróc, ít bị sâu bệnh hại, sinh trưởng nhanh, khả năng chống chịu hạn úng tốt. Nếu được cây họ đậu thì càng tốt vì sẽ làm cho đất màu mỡ thêm.

Những cây thường dùng làm trụ sống cho tiêu: cây anh đào giả, cây bình linh, cây vông nem, cây lồng mức, cây muồng xiêm… Ngoài ra cũng có thể dùng một số cây khác như keo ấn độ, muồng đen, cối rừng, cây gòn và các cây ăn quả như mít, xoài, cau, dừa, cây dâu tằm…

Lưu ý khi trồng tiêu bằng trụ sống:

-Phải trồng cây trụ sống trước khi trồng tiêu 1-2 năm.

-Sau khi trồng được 2-3 năm phải tỉa cành lá, cho thân thẳng, khi cây cao khoảng 4m thì phải chặt ngọn để tạo tán.

-Hằng năm trong mùa mưa tỉa bớt tán lá cho vườn thông thoáng, mùa khô nắng để cây ra lá cho có bóng râm.

-Khi trồng tiêu với trụ sống phải trồng xa trụ trên 0.5m, với dừa phải trồng xa 2m để không bị rễ dừa cạnh tranh.

Hiện nay trồng tiêu với trụ sống là phương pháp được khuyến khích hơn để bảo vệ rừng và môi trường sống.

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu ph

2.Trụ chết: trụ chết có thể là cây gỗ, trụ xây gạch hoặc trụ xi măng. Ưu điểm khi dùng trụ chết là không cạnh tranh dinh dưỡng với tiêu, không cần trồng trước lâu, nếu là trụ gạch haowjc xi măng thì rất bền, có thể tồn tại suốt đời sống cây tiêu. Nhược điểm là chi phí đầu tư lớn, trụ gạch hoặc xi măng toả nhiệt mạnh làm tổn thương rễ bám của tiêu, phải che tủ ở trên để có bóng râm, nếu là cây gỗ chết loại xấu thì dễ bị mối mọt làm hư hỏng, gỗ tốt thì rất khó tìm.

Lưu ý khi trồng tiêu bằng trụ chết:

– Trụ gỗ:

+ Phải là trụ bền chắc, không bị mối mọt và nấm để đảm bảo cho suốt đời sống của cây tiêu (20-30 năm).

+ Trụ phải cao từ 3,5 – 4 m, đường kính trên 15cm, chôn sâu xuống đất 0,6-1m. Lỗ chôn nên xử lý thuốc trừ mối, để cây trụ thêm vững chắc dùng dây thép nối các đầu cây trụ lại với nhau.

+ Các cây thương dùng làm trụ chết: căm xe, cà chắc, cà đuối, tàu láu, sầu đâu…Ở Phú Quốc thường dùng lõi cây thanh trà, ở U Minh dùng cây cóc rừng làm trụ tiêu cũng tốt.

-Trụ xây gạch:

+ Trụ xây hình vuông hoặc hình tròn, cao 3,5 – 4 m, đường kính đáy 0,8-1,2m, đường kính chóp 0,5-0,8m, có hình tháp, móng sâu xuống đất khoảng 0,5m. Ruột tháp rỗng, xung quanh tháp xếp gạch thành các lỗ hỏng.

+ Có thể đổ trong ruột tháp phân chuông ủ hoai để cung cấp thêm dinh dưỡng, giữ ẩm và điều hào nhiệt độ cho trụ tiêu.

-Trụ bằng xi măng: Cột xi măng, lõi thép hình vuông, mỗi cạnh 12-15cm, cao 3-4m.

Cần chú ý: Trụ bằng gạch hoặc xi măng khi cây tiêu chưa che phủ hết thì hút nhiệt rất mạnh, nhiệt độ bề mặt trụ có thể lên tới 50-60°C sẽ ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây. Vì vậy thời gian đầu, khi cây còn nhỏ cần được che chắn, tưới nước, bón phân đầy đủ.

Trường hợp chưa kịp chuẩn bị trụ chính bạn có thể chuẩn bị trụ tạm cho cây bò lên. Trụ tạm có thể là trụ bằng gỗ không tốt lắm, sử dụng được 1-2 năm rồi thay trụ chính.

Sau khi đã chọn được trụ tiêu bược tiếp theo là chuẩn bị đất trồng tiêu bao gồm các công đoạn như thiết kế vườn tiêu, làm đất, đào hố, lắp mô trồng…. Quy trình chuẩn bị đất trồng này sẽ được chia sẻ trong bài viết tiếp theo:

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 2: chuẩn bị đất trồng, cách trồng cây

Hướng dẫn trồng và chăm sóc hồ tiêu phần 3: Chăm sóc tiêu sau trồng

(Tài liệu tổng hợp theo sách Bác sĩ cây trồng, KS.Nguyễn Mạnh Chinh-TS. Nguyễn Đăng Nghĩa)