I-CIP duy trì ổn định khi mức rủi ro liên quan đến siêu El Niño tăng lên rồi lại giảm xuống
Giá cà phê nhân:
Giá Chỉ số Tổng hợp ICO (I-CIP) đạt mức trung bình 287,29 US cent/lb trong tháng 8 năm 2026, gần như không đổi so với tháng 7 năm 2026 (287,26 US cent/lb). Những lo ngại gia tăng về hiện tượng El Niño và nguồn cung cà phê Arabica khan hiếm trong ngắn hạn đã thúc đẩy đà tăng giá vào giữa tháng. Tuy nhiên, mức tăng này sau đó đã bị đảo chiều khi lượng mưa thuận lợi tại Brazil cùng kỳ vọng về nguồn cung gia tăng đã làm giảm áp lực đẩy giá lên cao.
- Giá các loại cà phê Colombian Mild và Other Mild lần lượt tăng 1,1% và 0,7% trong tháng 8 năm 2026 so với tháng 7 năm 2026, đạt mức trung bình tương ứng là 387,46 và 361,31 US cent/lb. Chênh lệch giá giữa Colombian Mild và Other Mild đã tăng 5,7%, từ mức 24,74 lên 26,15 US cent/lb trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2026.
- Chênh lệch giá (arbitrage) giữa thị trường kỳ hạn London và New York đã nới rộng 5,8%, lên mức 145,56 US cent/lb trong tháng 8 năm 2026.
Xuất khẩu cà phê:
Trong tháng 7 năm 2026, tổng lượng xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu đạt 10,76 triệu bao, tăng 6,3% so với mức 10,12 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Chỉ có cà phê Robusta ghi nhận tăng giá, với các diễn biến cụ thể như sau:
- Xuất khẩu cà phê nhân Robusta tăng 32,0%, đạt 4,98 triệu bao trong tháng 7 năm 2026.
- Xuất khẩu cà phê Colombian Mild giảm 11,1%, xuống còn 1,04 triệu bao trong tháng 7 năm 2026.
- Xuất khẩu cà phê Brazilian Natural giảm 10,0% xuống còn 2,46 triệu bao trong tháng 7 năm 2026.
- Lượng xuất khẩu cà phê Other Mild giảm 6,7% xuống còn 2,27 triệu bao trong tháng 7 năm 2026.
Tổng khối lượng xuất khẩu cà phê Arabica giảm xuống còn 5,78 triệu bao vào tháng 7 năm 2026, tương đương giảm 8,9% so với mức 6,35 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Như vậy, tỷ trọng của cà phê Arabica trong tổng xuất khẩu cà phê nhân lũy kế 10 tháng đầu niên vụ cà phê 2025/26 đã giảm từ 63,6% (cùng kỳ năm trước) xuống còn 59,7%.
Xuất khẩu toàn cầu đối với tất cả các loại cà phê đã tăng 3,3%, đạt 12,23 triệu bao vào tháng 7 năm 2026 so với mức 11,84 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Hai trong số 4 khu vực ghi nhận sự sụt giảm, với các diễn biến cụ thể như sau:
- Xuất khẩu mọi loại cà phê từ khu vực Châu Á & Châu Đại Dương tăng 17,6%, đạt 4,38 triệu bao.
- Xuất khẩu mọi loại cà phê từ Châu Phi giảm 6,7% trong tháng 7 năm 2026, xuống còn 1,90 triệu bao.
- Xuất khẩu mọi loại cà phê từ Nam Mỹ tăng 3,1%, đạt 4,57 triệu bao.
- Xuất khẩu mọi loại cà phê từ khu vực Caribe, Mexico & Trung Mỹ giảm 15,9%, xuống còn 1,39 triệu bao.
Triển vọng cung và cầu:
ICO đã công bố số liệu thống kê cập nhật về cung và cầu:
- Sản lượng cà phê thế giới ước tính tăng 4,4%, đạt 183,6 triệu bao trong niên vụ cà phê hiện tại (2025/26), trong khi mức tiêu thụ toàn cầu ước tính giảm 0,8%.
- Sau 4 niên vụ cà phê liên tiếp ghi nhận tình trạng thiếu hụt (từ niên vụ 2021/22 đến 2024/25), thị trường cà phê toàn cầu được dự báo sẽ đạt mức thặng dư 3,0 triệu bao trong niên vụ 2025/26.
Giá Chỉ số Tổng hợp ICO (I-CIP) đạt mức trung bình 287,29 US cent/lb trong tháng 8 năm 2026, gần như không đổi so với tháng 7 năm 2026 (287,26 US cent/lb), và dao động trong khoảng từ 279,38 đến 301,97 US cent/lb.

Xem thêm: Giá cà phê trực tuyến cập nhật hàng ngày
Giá của nhóm cà phê Colombian Mild và Other Mild đã tăng lần lượt 1,1% và 0,7% trong tháng 8 năm 2026 so với tháng 7 năm 2026, đạt mức trung bình tương ứng là 387,46 và 361,31 US cent/lb. Giá cà phê Brazilian Natural tăng 0,5% lên mức 322,24 US cent/lb. Trong cùng tháng, giá cà phê Robusta giảm 2,2% xuống còn 180,63 US cent/lb. Giá cà phê Robusta trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Liên lục địa (ICE) tại London giảm 3,0% xuống còn 167,63 US cent/lb trong tháng 8 năm 2026, trong khi giá cà phê Arabica trên sàn ICE tại New York tăng 0,9% lên mức 313,20 US cent/lb.

Chênh lệch giá giữa nhóm cà phê Colombian Mild và Other Mild đã tăng 5,7%, từ mức 24,74 lên 26,15 US cent/lb trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2026. Chênh lệch giá giữa Colombian Mild và Brazilian Natural nới rộng 4,0% lên mức 65,22 US cent/lb, trong khi chênh lệch giữa Colombian Mild và Robusta tăng 4,1% lên mức 206,82 US cent/lb. Đồng thời, chênh lệch giá giữa Other Mild với Brazilian Natural và giữa Other Mild với Robusta lần lượt tăng 2,9% và 3,9%, đạt mức 39,07 và 180,67 US cent/lb. Chênh lệch giá giữa Brazilian Natural và Robusta nới rộng 4,2% lên mức 141,61 US cent/lb vào tháng 8 năm 2026.
Chênh lệch giá (arbitrage) giữa thị trường hợp đồng kỳ hạn London và New York đã nới rộng 5,8% lên mức 145,56 US cent/lb vào tháng 8 năm 2026.

Mức biến động trong ngày của chỉ số I-CIP đạt 13,7% vào tháng 8, giảm 1,3 điểm phần trăm so với tháng 7 năm 2026. Trong 30 ngày qua, mức độ biến động của tất cả các nhóm cà phê Arabica đều giảm. Mức biến động của nhóm Colombian Mild và Other Mild lần lượt giảm 1,7% và 2,1%, xuống còn 14,6% và 15,7%. Mức biến động của nhóm Brazilian Natural cũng giảm 1,6 điểm phần trăm so với tháng trước, xuống còn 16,3% vào tháng 8 năm 2026. Trong khi đó, mức biến động của nhóm Robusta vẫn duy trì ổn định ở mức 11,0%. Tại các thị trường kỳ hạn New York và London, mức biến động lần lượt là 19,9% và 13,2%, giảm tương ứng 3,0 và 1,9 điểm phần trăm trong tháng 8 so với tháng 7 năm 2026.
Giá cà phê trong tháng 8 diễn biến theo mô hình chữ V ngược: tăng mạnh vào giữa tháng rồi sau đó điều chỉnh giảm sâu, khiến chỉ số I-CIP gần như không thay đổi so với đầu tháng. Ban đầu, giá có xu hướng giảm nhẹ trước khi tăng liên tục từ ngày 17 đến ngày 25 tháng 8, do kỳ vọng về hiện tượng El Niño mạnh gia tăng, cộng hưởng với tình trạng lượng tồn kho cà phê Arabica được chứng nhận đang ở mức thấp kỷ lục. Tuy nhiên, đợt điều chỉnh mạnh trong hai phiên giao dịch ngày 26 và 27 tháng 8 đã đưa chỉ số này trở lại mức giá đầu tháng. Đáng chú ý, thị trường kỳ hạn vẫn duy trì trạng thái “đảo ngược” (giá giao ngay cao hơn giá giao kỳ hạn), phản ánh nguồn cung ngắn hạn khan hiếm và nhu cầu giao hàng ngay vẫn ở mức cao.
Biến động giá trong tháng phản ánh sự giằng co giữa nguồn cung ngắn hạn hạn chế và kỳ vọng về tình trạng dư thừa nguồn cung đáng kể trong niên vụ 2026/27. Một mặt, tiến độ thương mại của vụ mùa kỷ lục 2026/27 của Brazil diễn ra chậm hơn so với quy mô sản lượng dự kiến, làm hạn chế nguồn cung mới ra thị trường. Mặt khác, yếu tố thúc đẩy đợt tăng giá giữa tháng là sự gia tăng mạnh mẽ các dự báo về El Niño, đúng vào thời điểm giai đoạn ra hoa (tháng 9–10) tại Brazil – yếu tố then chốt quyết định sản lượng vụ Arabica 2027/28. Vào cuối tháng 8, đà giảm giá được củng cố nhờ các thông tin cho rằng những hạn chế về năng lực kho bãi tại Brazil có thể buộc các nhà sản xuất phải đẩy mạnh bán hàng.
Hai yếu tố từng chi phối diễn biến thị trường trong các giai đoạn trước đó lại có tác động trung tính trong tháng 8:
- Chính sách thương mại của Hoa Kỳ: Mức thuế 25% mà Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Brazil (có hiệu lực từ ngày 22 tháng 7 năm 2026) không áp dụng cho cà phê nhân xanh và cà phê hòa tan không hương liệu.
- Tỷ giá hối đoái: Đồng Real của Brazil duy trì sự ổn định tương đối, dao động trong khoảng từ 5,10 đến 5,22 Real đổi 1 Đô la Mỹ.
Ngược lại, một số diễn biến khác đã tác động tích cực, đẩy giá tăng lên:
- Rủi ro El Niño gia tăng: Vào ngày 13 tháng 8, Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA) dự báo xác suất xảy ra hiện tượng El Niño rất mạnh tại Bắc Bán cầu trong mùa thu và mùa đông niên vụ 2026/27 là hơn 90%. Báo cáo cũng chỉ ra xác suất 69% cho thấy cường độ của hiện tượng này trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 12 sẽ vượt qua bất kỳ sự kiện nào từng được ghi nhận kể từ năm 1950. Cơ quan Khí tượng Vương quốc Anh (Met Office) cũng công bố các dự báo tương tự. Những dự báo này làm gia tăng lo ngại về điều kiện thời tiết trong giai đoạn ra hoa sắp tới tại Brazil – yếu tố then chốt quyết định quy mô sản lượng vụ cà phê Arabica niên vụ 2027/28.
- Lượng tồn kho Arabica sụt giảm: Lượng tồn kho cà phê Arabica được ICE chứng nhận đã liên tục giảm trong suốt tháng, chốt ở mức 223.976 bao vào ngày 31 tháng 8 – mức thấp nhất kể từ năm 1999.
- Gián đoạn tại Colombia: Một trận động đất mạnh 7,4 độ richter đã xảy ra ở miền tây Colombia vào ngày 10 tháng 8, ảnh hưởng đến một số vùng sản xuất và làm đình trệ hoạt động tại cảng Buenaventura trên bờ biển Thái Bình Dương.
- Tiến độ thu hoạch chậm hơn tại Brazil: Hoạt động thu hoạch tại Brazil diễn ra chậm hơn so với tiến độ lịch sử trong phần lớn thời gian của tháng. Safras & Mercado – một công ty tư vấn nông nghiệp của Brazil – báo cáo rằng tính đến ngày 12 tháng 8, vụ thu hoạch 2026/27 đã hoàn tất 90%, so với mức 97% cùng kỳ vụ trước và mức trung bình 5 niên vụ là 94%; riêng cà phê Arabica đạt 86% so với mức 95% trước đó.
Tuy nhiên, một số diễn biến khác lại gây áp lực giảm giá trong tháng 8:
- Kỳ vọng về mức thặng dư lớn: Các dự báo mới về mức thặng dư đáng kể cho niên vụ 2026/27 đã được công bố trong tháng 8; trong đó, Marex dự báo mức thặng dư toàn cầu là 10,5 triệu bao cho niên vụ 2026/27. Báo cáo triển vọng hàng quý của Rabobank, phát hành ngày 30 tháng 8, cũng dự báo mức thặng dư 8,9 triệu bao và nhận định cán cân cung – cầu niên vụ 2026/27 ở trạng thái dồi dào.
- Hạn chế về kho bãi tại Brazil: Các báo cáo cho thấy kho bãi tại Brazil đang dần hết công suất, làm dấy lên kỳ vọng rằng các nhà sản xuất sẽ đẩy nhanh việc bán hàng để giải phóng không gian cho vụ mùa sắp tới.
- Lượng mưa thuận lợi: Lượng mưa cao hơn mức trung bình tại Brazil vào những ngày cuối tháng được đánh giá là nhìn chung thuận lợi cho giai đoạn ra hoa của vụ 2027/28, qua đó phần nào bù đắp cho yếu tố rủi ro liên quan đến El Niño đã hình thành từ đầu tháng.

Lượng tồn kho cà phê Robusta được chứng nhận tại London đã tăng 19,5%, lên mức 0,83 triệu bao trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2026, chốt tháng ở mức cao nhất trong vòng 9 tháng. Trong khi đó, lượng tồn kho cà phê Arabica được chứng nhận tại Mỹ đã giảm xuống còn 0,24 triệu bao – mức thấp nhất kể từ năm 1999 và thấp hơn khoảng 68% so với cùng kỳ niên vụ trước.
Xuất khẩu của các nhóm cà phê – Cà phê nhân sống
Trong tháng 7 năm 2026, tổng lượng xuất khẩu cà phê nhân xanh toàn cầu đạt 10,76 triệu bao, tăng 6,3% so với mức 10,12 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Đây là tháng thứ tư ghi nhận mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu của niên vụ cà phê 2025/26. Diễn biến xuất khẩu cũng cho thấy sự khác biệt so với quy luật mùa vụ thông thường (xem Hình I và II). Tuy nhiên, tổng lượng xuất khẩu lũy kế tính từ đầu niên vụ (từ tháng 10 năm 2025 đến tháng 7 năm 2026) lại giảm 0,4%, xuống còn 102,87 triệu bao.

Sự gia tăng khối lượng xuất khẩu trong tháng 7 chủ yếu nhờ vào cà phê Robusta. Như vậy, tỷ trọng của cà phê Arabica trong tổng lượng xuất khẩu cà phê nhân tính từ đầu niên vụ đến nay đã giảm xuống còn 59,7%, so với mức 61,4% ghi nhận trong 9 tháng đầu niên vụ.

Xuất khẩu cà phê Robusta nhân xanh đã tăng 32,0%, đạt 4,98 triệu bao vào tháng 7 năm 2026, so với mức 3,77 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Hoạt động xuất khẩu nhóm cà phê này trong tháng 7 đi ngược lại quy luật mùa vụ thông thường – vốn dự báo khối lượng xuất khẩu sẽ giảm so với hai tháng trước đó (Hình III và IV). Hệ quả là, tổng khối lượng xuất khẩu lũy kế tính đến tháng 7 năm 2026 của niên vụ cà phê này đã tăng 8,8%, đạt 41,48 triệu bao so với mức 37,56 triệu bao cùng kỳ niên vụ trước.

Sự gia tăng trong tháng 7 chủ yếu đến từ Việt Nam, quốc gia có lượng xuất khẩu cà phê Robusta tăng vọt 87,4%, từ 1,28 triệu bao lên 2,4 triệu bao (Hình V). Brazil cũng là một nhân tố tích cực khác, với lượng xuất khẩu tăng 83,7% – từ 0,47 triệu bao lên 0,86 triệu bao – trong cùng kỳ (Hình VI).

Mức tăng so với cùng kỳ của Brazil phần nào phản ánh sự khác biệt về thời điểm xuất hàng giữa niên vụ trước và niên vụ cà phê hiện tại. Hoạt động xuất khẩu cà phê Robusta trong niên vụ trước đã đi chệch khỏi quy luật theo mùa thường thấy trong suốt 15 niên vụ qua: đợt sụt giảm theo vụ mùa kéo dài hơn bình thường hai tháng, với khối lượng xuất khẩu chạm mức thấp nhất vào tháng 4 thay vì tháng 2 (Hình VII). Sang niên vụ 2025/26, hoạt động xuất khẩu đã diễn biến sát hơn với quy luật đã được xác lập.
Xuất khẩu nhóm cà phê Colombian Mild đã giảm 11,1%, xuống còn 1,04 triệu bao vào tháng 7 năm 2026 so với mức 1,17 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Đây là tháng thứ 9 nhóm này ghi nhận mức tăng trưởng âm trong niên vụ cà phê hiện tại, sau khi chỉ đạt mức tăng trưởng dương duy nhất vào tháng 6. Colombia là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm của nhóm này trong tháng 7, với lượng xuất khẩu giảm 15,3% xuống còn 0,93 triệu bao so với mức 1,1 triệu bao của tháng 7 năm 2025.

Sự sụt giảm trong tháng 7 chủ yếu bắt nguồn từ Brazil, nơi lượng xuất khẩu cà phê nhóm này giảm xuống còn 1,81 triệu bao vào tháng 7 năm 2026 so với 1,98 triệu bao của cùng kỳ vụ trước (Hình XII). Hội đồng các Nhà xuất khẩu Cà phê Brazil (Cecafé) cho rằng nguyên nhân khiến xuất khẩu của Brazil sụt giảm trong tháng 7 là do tiến độ thu hoạch bị chậm lại bởi mưa tại các vùng trồng trọng điểm và tình trạng tắc nghẽn logistics kéo dài tại các cảng biển của nước này. Cooxupé – một hợp tác xã cà phê của Brazil – báo cáo rằng các thành viên của họ đã hoàn tất 67,3% kế hoạch thu hoạch cho niên vụ cà phê 2026/27 tính đến cuối tháng 7 năm 2026, thấp hơn so với tỷ lệ hoàn thành 74,2% của cùng kỳ vụ trước. Trong khi đó, Safras & Mercado cho biết tính đến ngày 15 tháng 7, Brazil đã hoàn thành 64% công tác thu hoạch cà phê niên vụ 2026/27; con số này thấp hơn mức 77% của vụ trước và mức trung bình 70% của giai đoạn 5 niên vụ qua.

Lượng xuất khẩu nhóm cà phê “Other Mild” đã giảm 6,7%, từ mức 2,44 triệu bao tháng 7 năm 2025 xuống còn 2,27 triệu bao vào tháng 7 năm 2026. Nicaragua là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm này, với lượng xuất khẩu giảm 63,1% – từ 0,33 triệu bao vào tháng 7 năm 2025 xuống còn 0,12 triệu bao. (xem Exports by region – all forms of coffee). Mức giảm này đã được bù đắp một phần nhờ Guatemala và Honduras; xuất khẩu của hai quốc gia này lần lượt tăng 29,7% và 16,3%, đạt mức 0,34 triệu bao và 0,53 triệu bao, so với các mức tương ứng là 0,26 triệu bao và 0,46 triệu bao vào tháng 7 năm 2025.

Tổng lượng xuất khẩu cà phê Arabica đã giảm xuống còn 5,78 triệu bao vào tháng 7 năm 2026, giảm 8,9% so với mức 6,35 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Hệ quả là, tỷ trọng của cà phê Arabica trong tổng lượng xuất khẩu cà phê nhân cộng dồn suốt 10 tháng đầu niên vụ 2025/26 đã giảm từ 63,6% cùng kỳ niên vụ trước xuống còn 59,7%.

Xuất khẩu theo khu vực – tất cả các loại cà phê
Tổng lượng xuất khẩu các loại cà phê trên toàn cầu đã tăng 3,3%, đạt 12,23 triệu bao vào tháng 7 năm 2026 so với mức 11,84 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Mức tăng này đã đưa tổng khối lượng xuất khẩu lũy kế từ tháng 10 năm 2025 đến tháng 7 năm 2026 lên 118,39 triệu bao, giảm 0,04%. Diễn biến tại 4 khu vực có sự khác biệt: xuất khẩu từ Châu Phi và khu vực Caribe, Mexico & Trung Mỹ sụt giảm, trong khi lượng hàng xuất đi từ Châu Á & Châu Đại Dương và Nam Mỹ lại tăng lên. Tuy nhiên, Châu Á & Châu Đại Dương chính là động lực chủ yếu thúc đẩy đà tăng trưởng trong tháng 7.

Xem thêm: Cẩm nang cây cà phê
Xuất khẩu các loại cà phê từ khu vực Châu Á & Châu Đại Dương đã tăng 17,6%, đạt 4,38 triệu bao vào tháng 7 năm 2026 so với mức 3,73 triệu bao của tháng 7 năm 2025 (Hình XV). Theo đó, tổng lượng xuất khẩu tính từ đầu niên vụ đến thời điểm tháng 7 đã tăng lên 43,59 triệu bao, so với mức 38,31 triệu bao ghi nhận trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2024 đến tháng 7 năm 2025. Sự gia tăng xuất khẩu của khu vực trong tháng 7 chủ yếu nhờ vào Việt Nam; quốc gia đã tăng lượng xuất khẩu thêm 43,7%, đạt 2,83 triệu bao so với mức 1,97 triệu bao của cùng kỳ vụ trước. Kết quả, tổng lượng xuất khẩu tính từ đầu niên vụ của Việt Nam đã tăng 17,7%, đạt 28,14 triệu bao so với mức 23,9 triệu bao của cùng kỳ vụ trước.

Xuất khẩu các loại cà phê từ châu Phi đã giảm 6,7% trong tháng 7 năm 2026, xuống còn 1,9 triệu bao so với mức 2,03 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Đây là tháng thứ 5 liên tiếp khu vực này ghi nhận mức tăng trưởng âm. Hệ quả là, tổng lượng xuất khẩu lũy kế từ đầu niên vụ đến tháng 7 đã giảm xuống còn 14,71 triệu bao, so với mức 15,93 triệu bao cùng kỳ vụ trước.
Sự sụt giảm gần đây này chủ yếu bắt nguồn từ Ethiopia và Uganda; tổng lượng xuất khẩu của hai quốc gia này ước tính đã giảm từ 1,81 triệu bao (tháng 7/2025) xuống còn 1,52 triệu bao, tương đương mức giảm 15,9% (Hình XVII và XVIII). Uganda bước vào niên vụ cà phê hiện tại sau khi đạt kết quả kỷ lục ở niên vụ 2024/25 với lượng xuất khẩu lên tới 8,26 triệu bao. Trong khi đó, khối lượng xuất khẩu trung bình mỗi vụ của nước này trong 4 niên vụ trước đó là 6,22 triệu bao, và mức cao nhất từng ghi nhận trước đó là 6,5 triệu bao vào niên vụ 2020/21. Kết quả vượt trội của Uganda trong niên vụ 2024/25 có được nhờ sản lượng tăng cao và việc giải phóng hàng tồn kho để tận dụng giá cà phê quốc tế đang ở mức cao. Do đó, mức sụt giảm so với cùng kỳ gần đây tại Uganda có thể được hiểu là sự trở lại trạng thái bình thường sau một mốc kỷ lục đặc biệt cao, thay vì là dấu hiệu của một đợt sụt giảm trên diện rộng.

Xuất khẩu tất cả các loại cà phê của Nam Mỹ tăng 3,1% lên 4,57 triệu bao trong tháng 7 năm 2026, so với 4,43 triệu bao trong tháng 7 năm 2025. Đây là tháng thứ 3 liên tiếp tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ vụ trước. Sự tăng trưởng gần đây chủ yếu là nhờ Brazil, với xuất khẩu tăng 10,9% lên 3,06 triệu bao so với 2,76 triệu bao của vụ trước. Đây là tháng tăng trưởng tích cực thứ tư liên tiếp của Brazil sau 16 tháng tăng trưởng âm. Sự tăng trưởng của Brazil một phần bị bù trừ từ phía Colombia, với xuất khẩu giảm 14,7% xuống còn 1,01 triệu bao trong tháng 7 năm 2026 so với 1,18 triệu bao trong tháng 7 năm 2025 (xem tại Exports by coffee group – green beans).
Xuất khẩu các loại cà phê từ vùng Caribe, Mexico và Trung Mỹ đã giảm 15,9%, xuống còn 1,39 triệu bao vào tháng 7 năm 2026 so với mức 1,65 triệu bao của tháng 7 năm 2025. Đây là tháng thứ 3 liên tiếp ghi nhận mức tăng trưởng âm. Sự sụt giảm gần đây của khu vực này chủ yếu bắt nguồn từ Mexico và Nicaragua (Hình XIX và XX).

Hoạt động xuất khẩu cà phê của Nicaragua đã khởi đầu tích cực trong niên vụ 2025/26 với mức tăng trưởng trong 6 tháng đầu tiên. Tuy nhiên, trong 4 tháng gần đây, xuất khẩu lại có xu hướng sụt giảm. Hệ quả là, tính từ đầu niên vụ đến nay, khối lượng xuất khẩu đã giảm 5,6% xuống còn 2,02 triệu bao, so với mức 2,14 triệu bao được xuất đi trong giai đoạn từ tháng 10/2024 đến tháng 7/2025. Sự sụt giảm này dường như phản ánh tình trạng nguồn cung trong nước bị thu hẹp, khi sản lượng thu hoạch niên vụ 2025/26 ước đạt 2,46 triệu bao, thấp hơn so với mức 2,71 triệu bao của niên vụ 2024/25.
Xuất khẩu cà phê phân loại theo loại cà phê
Cà phê nhân là loại cà phê xuất khẩu chủ lực, chiếm 86,9% tổng lượng xuất khẩu trong 10 tháng đầu của niên vụ cà phê 2025/26, trong khi cà phê hòa tan và cà phê rang xay lần lượt chiếm 12,6% và 0,5%.

Tổng lượng xuất khẩu cà phê hòa tan đã giảm 16,7%, từ 1,68 triệu bao vào tháng 7 năm 2025 xuống còn 1,4 triệu bao vào tháng 7 năm 2026. Việt Nam và Brazil là hai quốc gia xuất khẩu cà phê hòa tan hàng đầu trong tháng 7 năm 2026, với khối lượng xuất khẩu lần lượt là 0,38 triệu bao và 0,36 triệu bao.
Xuất khẩu cà phê rang xay đã tăng 70,6% trong tháng 7 năm 2026, đạt 0,07 triệu bao, so với mức 0,04 triệu bao vào tháng 7 năm 2025.
Cung và cầu – Tóm tắt niên vụ cà phê 2024/25 và 2025/26
Vào ngày 10 tháng 9 năm 2026, ICO đã công bố số liệu thống kê cập nhật về cung và cầu, bao gồm dữ liệu đến hết niên vụ cà phê 2025/26. Các dữ liệu này cho thấy:
- Sản lượng cà phê toàn cầu đã tăng 2,5%, đạt 175,9 triệu bao trong niên vụ 2024/25, nhờ sự phục hồi tại khu vực Châu Á & Châu Đại Dương sau khi sản lượng sụt giảm do thời tiết bất lợi ở niên vụ 2023/24, cũng như nhờ hiệu quả từ các chính sách mở rộng sản xuất tại các quốc gia trồng cà phê trọng điểm ở Châu Phi.
- Đối với niên vụ hiện tại 2025/26, sản lượng cà phê toàn cầu ước tính tăng 4,4%, đạt 183,6 triệu bao. Mức tăng này phản ánh giai đoạn năng suất cao trong chu kỳ sản xuất hai năm một lần tại Nam Mỹ, sự gia tăng sản lượng liên tục nhờ các chính sách mở rộng tại Châu Phi và điều kiện thời tiết thuận lợi tại Châu Á & Châu Đại Dương.
- Tác động của chu kỳ sản xuất hai năm một lần được dự báo sẽ chi phối triển vọng sản lượng cà phê Arabica; loại cà phê này dự kiến tăng 2,8% lên 104,4 triệu bao trong niên vụ 2025/26, nối tiếp mức tăng 0,5% của niên vụ trước đó. Sản lượng cà phê Robusta ước tính sẽ tăng mạnh lên 79,2 triệu bao trong niên vụ 2025/26, tăng 6,5%.
- Nam Mỹ dự kiến vẫn là khu vực sản xuất cà phê lớn nhất thế giới với sản lượng ước tính đạt 84,1 triệu bao trong niên vụ 2025/26, chiếm 45,8% tổng sản lượng toàn cầu. Tiếp theo là khu vực Châu Á & Châu Đại Dương với tỷ trọng ước tính 29,7%, sau đó là Châu Phi (13,6%) và khu vực Caribe, Trung Mỹ cùng Mexico (10,8%).
- Tiêu thụ cà phê toàn cầu đã tăng 4,3%, đạt 182,2 triệu bao trong niên vụ 2024/25, sau khi tăng 0,6% vào niên vụ trước đó. Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu. Trong niên vụ 2025/26, mức tiêu thụ ước tính sẽ giảm 0,8%; một phần nguyên nhân là do sự điều chỉnh về mức bình thường sau khi ghi nhận mức tăng trưởng đặc biệt mạnh mẽ trong niên vụ 2024/25. Mặc dù mức tiêu thụ tại hầu hết các khu vực dự kiến sẽ không có nhiều thay đổi, nhưng mức giảm được dự báo sẽ diễn ra tại Hoa Kỳ – quốc gia tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới.
- Châu Âu vẫn là khu vực tiêu thụ cà phê lớn nhất, chiếm 30,1% tổng lượng tiêu thụ cà phê toàn cầu trong niên vụ 2024/25, cao hơn 3,3 điểm phần trăm so với khu vực Châu Á & Châu Đại Dương. Các khu vực này dự kiến sẽ duy trì vị trí thứ nhất và thứ hai của mình trong niên vụ 2025/26. Tuy nhiên, Nam Mỹ được dự báo sẽ vượt qua Bắc Mỹ để trở thành khu vực tiêu thụ cà phê lớn thứ ba thế giới trong niên vụ 2025/26.
- Sau 4 niên vụ liên tiếp (từ 2021/22 đến 2024/25) ghi nhận tình trạng thiếu hụt nguồn cung, thị trường cà phê toàn cầu được dự báo sẽ đạt mức thặng dư 3,0 triệu bao trong niên vụ 2025/26.


Table 1: ICO daily indicator prices and futures prices (US cents/lb)
| ICO Composite |
Colombian Milds |
Other Milds |
Brazilian Naturals |
Robustas | New York* | London* | |
| Monthly averages | |||||||
| Sep-25 | 324.62 | 403.77 | 400.21 | 374.91 | 210.85 | 366.31 | 197.56 |
| Oct-25 | 326.38 | 403.25 | 403.79 | 373.47 | 215.06 | 366.00 | 202.16 |
| Nov-25 | 330.44 | 408.75 | 410.31 | 380.17 | 214.91 | 373.57 | 202.33 |
| Dec-25 | 304.68 | 382.32 | 381.14 | 355.38 | 190.53 | 347.71 | 178.87 |
| Jan-26 | 296.89 | 371.59 | 363.94 | 343.77 | 192.52 | 334.99 | 180.23 |
| Feb-26 | 267.57 | 330.89 | 321.35 | 308.62 | 179.73 | 288.76 | 166.06 |
| Mar-26 | 273.70 | 337.45 | 334.34 | 320.51 | 176.77 | 290.18 | 161.91 |
| Apr-26 | 266.24 | 334.56 | 331.22 | 313.76 | 164.64 | 284.63 | 150.65 |
| May-26 | 256.05 | 323.45 | 315.42 | 293.73 | 166.51 | 268.18 | 151.79 |
| Jun-26 | 248.90 | 324.60 | 307.83 | 272.01 | 169.39 | 256.75 | 155.90 |
| Jul-26 | 287.26 | 383.39 | 358.65 | 320.69 | 184.78 | 310.34 | 172.73 |
| Aug-26 | 287.29 | 387.46 | 361.31 | 322.24 | 180.63 | 313.20 | 167.63 |
| % change between Jul-26 and Aug-26 | |||||||
| 0.0% | 1.1% | 0.7% | 0.5% | -2.2% | 0.9% | -3.0% | |
| Volatility (%) | |||||||
| Jul-26 | 15.0% | 16.3% | 17.8% | 17.9% | 11.0% | 22.9% | 15.1% |
| Aug-26 | 13.7% | 14.6% | 15.7% | 16.3% | 11.0% | 19.9% | 13.2% |
| Variation between Jul-26 and Aug-26 | |||||||
| -1.3 | -1.7 | -2.1 | -1.6 | 0.0 | -3.0 | -1.9 | |
| * Average prices for 2nd and 3rd positions | *Volatility variation is rounded | ||||||
|
Table 2: Price differentials (US cents/lb) |
|||||||
|
Colombian Milds Other Milds |
Colombian Milds Brazilian |
Colombian Milds Robustas |
Other Milds
Brazilian |
Other Milds
Robustas |
Brazilian Naturals Robustas |
New York*
London* |
|
| Naturals | Naturals | ||||||
| Sep-25 | 3.56 | 28.86 | 192.92 | 25.30 | 189.36 | 164.07 | 168.75 |
| Oct-25 | -0.54 | 29.78 | 188.19 | 30.32 | 188.73 | 158.41 | 163.84 |
| Nov-25 | -1.56 | 28.59 | 193.84 | 30.14 | 195.40 | 165.26 | 171.24 |
| Dec-25 | 1.18 | 26.95 | 191.80 | 25.76 | 190.61 | 164.85 | 168.85 |
| Jan-26 | 7.65 | 27.83 | 179.08 | 20.18 | 171.43 | 151.25 | 154.75 |
| Feb-26 | 9.54 | 22.27 | 151.16 | 12.73 | 141.62 | 128.89 | 122.70 |
| Mar-26 | 3.12 | 16.95 | 160.69 | 13.83 | 157.57 | 143.74 | 128.27 |
| Apr-26 | 3.34 | 20.80 | 169.92 | 17.46 | 166.58 | 149.12 | 133.99 |
| May-26 | 8.03 | 29.72 | 156.94 | 21.69 | 148.91 | 127.21 | 116.39 |
| Jun-26 | 16.77 | 52.59 | 155.21 | 35.82 | 138.44 | 102.62 | 100.86 |
| Jul-26 | 24.74 | 62.70 | 198.61 | 37.96 | 173.86 | 135.91 | 137.61 |
| Aug-26 | 26.15 | 65.22 | 206.82 | 39.07 | 180.67 | 141.61 | 145.56 |
| % change between Jul-26 and Aug-26 | |||||||
| 5.7% | 4.0% | 4.1% | 2.9% | 3.9% | 4.2% | 5.8% | |
| * Average prices for 2nd and 3rd positions | |||||||
Table 3: Summary of supply, demand and balance – Million 60-kg Bags
| SUMMARY | 2020/21 | 2021/22 | 2022/23 | 2023/24 | 2024/25 | 2025/26 |
| Arabica Production | 101.3 | 94.6 | 96.1 | 101.1 | 101.6 | 104.4 |
| Robustas Production | 70.0 | 73.8 | 73.9 | 70.5 | 74.4 | 79.2 |
| Total Production | 171.3 | 168.4 | 170.0 | 171.6 | 175.9 | 183.6 |
| Consumption | 170.9 | 176.8 | 173.7 | 174.6 | 182.2 | 180.6 |
| TOTL PRODUCTION – REGIONS | 2020/21 | 2021/22 | 2022/23 | 2023/24 | 2024/25 | 2025/26 |
| Asia & Oceania | 49.9 | 52.9 | 52.8 | 47.0 | 50.4 | 54.6 |
| S America | 82.8 | 77.2 | 79.5 | 85.2 | 82.8 | 84.1 |
| C America & Mexico | 19.9 | 18.7 | 18.7 | 17.9 | 18.9 | 19.9 |
| Africa | 18.7 | 19.6 | 19.0 | 21.5 | 23.9 | 25.0 |
| TOTL CONSUMPTION – REGIONS | 2020/21 | 2021/22 | 2022/23 | 2023/24 | 2024/25 | 2025/26 |
| Europe | 52.4 | 55.3 | 53.5 | 52.8 | 54.8 | 55.1 |
| Asia & Oceania | 42.6 | 44.4 | 45.5 | 47.6 | 48.9 | 48.5 |
| N America | 30.2 | 31.3 | 28.7 | 27.8 | 30.2 | 28.5 |
| S America | 26.9 | 27.4 | 28.1 | 28.2 | 28.8 | 28.8 |
| C America & Mexico | 5.8 | 6.0 | 6.0 | 6.1 | 6.2 | 6.3 |
| Caribbean | 0.1 | 0.1 | 0.1 | 0.1 | 0.1 | 0.1 |
| Africa | 12.8 | 12.4 | 11.9 | 12.2 | 13.3 | 13.4 |
Table 4: Total exports by exporting countries
| Jul-25 | Jul-26 | % change |
Year to 2024/25 |
Date Coffee 2025/26 |
Year Y % change |
oY Change | |
| TOTAL | 11,843 | 12,235 | 3.3% | 118,432 | 118,386 | 0.0% | 3.2% |
| Arabicas | 6,983 | 6,337 | -9.2% | 72,072 | 67,598 | -6.2% | -10.2% |
| Colombian Milds | 1,253 | 1,124 | -10.3% | 12,443 | 10,982 | -11.7% | -11.5% |
| Other Milds | 2,758 | 2,496 | -9.5% | 22,223 | 24,302 | 9.4% | -10.5% |
| Brazilian Naturals | 2,972 | 2,718 | -8.5% | 37,406 | 32,313 | -13.6% | -9.3% |
| Robustas | 4,860 | 5,898 | 21.3% | 46,360 | 50,788 | 9.6% | 17.6% |
In thousand 60-kg bags
Monthly trade statistics are available upon subscription
Table 5: Certified stocks on the New York and London futures markets
New York 0.62 0.47 0.44 0.48 0.46 0.52 0.61 0.55 0.48 0.41 0.29 0.24
London 1.08 1.01 0.73 0.71 0.76 0.76 0.68 0.65 0.64 0.68 0.69 0.83
In million 60-kg bags
Hàng năm, Ban Thư ký sử dụng số liệu thống kê nhận được từ các Quốc gia thành viên để đưa ra ước tính và dự báo về sản lượng, tiêu thụ, thương mại và tồn kho hàng năm. Như đã nêu trong khoản 100 của tài liệu ICC-120-16, các số liệu thống kê này có thể được bổ sung và hoàn thiện bằng dữ liệu từ các nguồn khác khi thông tin nhận được từ các Quốc gia thành viên không đầy đủ, bị chậm trễ hoặc không nhất quán. Ban Thư ký cũng xem xét nhiều nguồn để lập bảng cân đối cung cầu cho các quốc gia không phải là thành viên.
Ban Thư ký sử dụng khái niệm năm kinh doanh, tức là niên vụ cà phê bắt đầu từ ngày 1 tháng 10 hàng năm, khi xem xét sự cân bằng cung cầu toàn cầu. Các quốc gia sản xuất cà phê nằm ở các khu vực khác nhau trên thế giới, với các niên vụ thu hoạch khác nhau, tức là khoảng thời gian 12 tháng từ vụ thu hoạch này đến vụ thu hoạch tiếp theo. Các niên vụ thu hoạch hiện đang được Ban Thư ký sử dụng bắt đầu vào ngày 1 tháng 4, 1 tháng 7 và 1 tháng 10. Để duy trì tính nhất quán, Ban Thư ký chuyển đổi dữ liệu sản lượng từ cơ sở niên vụ thu hoạch sang cơ sở năm kinh doanh tùy thuộc vào tháng thu hoạch của mỗi quốc gia. Việc sử dụng cơ sở niên vụ cà phê cho cung và cầu cà phê toàn cầu, cũng như giá cả, đảm bảo rằng việc phân tích tình hình thị trường diễn ra trong cùng một khoảng thời gian.
Ví dụ, niên vụ cà phê 2022/23 bắt đầu vào ngày 1 tháng 10 năm 2022 và kết thúc vào ngày 30 tháng 9 năm 2023. Tuy nhiên, đối với các nhà sản xuất có niên vụ bắt đầu vào ngày 1 tháng 4, sản lượng của niên vụ đó diễn ra trong hai niên vụ cà phê. Niên vụ 2022/23 của Brazil bắt đầu vào ngày 1 tháng 4 năm 2022 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2023, bao gồm nửa đầu niên vụ cà phê 2022/23. Tuy nhiên, niên vụ 2023/24 của Brazil bắt đầu vào ngày 1 tháng 4 năm 2023 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2024, bao gồm nửa sau niên vụ cà phê 2023/24. Để thống nhất sản lượng của các vụ mùa vào một niên vụ cà phê duy nhất, Ban Thư ký sẽ phân bổ một phần sản lượng của vụ mùa tháng 4 – tháng 3 năm 2022/23 và một phần sản lượng của vụ mùa tháng 4 – tháng 3 năm 2023/24 vào sản lượng niên vụ cà phê 2022/23.
Cần lưu ý rằng, mặc dù các ước tính về sản lượng niên vụ cà phê được lập cho từng quốc gia riêng lẻ, nhưng chúng được thực hiện nhằm mục đích tạo ra sự cân bằng cung cầu tổng hợp nhất quán cho mục đích phân tích và không phản ánh sản lượng thực tế đang diễn ra trong từng quốc gia.
