Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

chiến tranh lên thị trường nông sản hiện nay

TÌNH HÌNH CHUNG

THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

  • Cà phê: Đầu tháng 10/2026, giá cà phê trên thị trường thế giới giảm nhẹ do nguồn cung từ Bra-xin tăng. Tuy nhiên, đà giảm giá được hạn chế bởi lượng tồn kho cà phê Robusta thu hẹp và nguồn cung cà phê Arabica tại một số nước sản xuất giảm.
  • Hạt điều: Trong quý 3/2026, các yếu tố cơ bản của thị trường hạt điều toàn cầu được đặc trưng bởi giá hạt điều thô cao và giá hạt điều nguyên hạt ổn định.
  • Rau quả: Thị trường tinh chất cam quýt toàn cầu dự kiến tăng từ 17,94 tỷ USD năm 2025 lên 18,77 tỷ USD năm 2026 và đạt 23,72 tỷ USD vào năm 2031. Phi-líp-pin xuất khẩu lô chuối Cardava đông lạnh đầu tiên sang Úc.
  • Sắn và sản phẩm từ sắn: Đầu tháng 10/2026, thị trường sắn Thái Lan ghi nhận giá tinh bột sắn điều chỉnh giảm nhẹ, trong khi giá sắn lát xuất khẩu và giá sắn nguyên liệu duy trì ổn định. Xuất khẩu sắn và tinh bột sắn của Thái Lan giảm mạnh trong 8 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ chủ lực.
  • Gỗ và sản phẩm gỗ: Trung Quốc dẫn đầu xuất khẩu đồ nội thất toàn cầu, trong khi Việt Nam và các nước châu Âu gia tăng vị thế. Ngành nội thất Bỉ chịu sức ép cạnh tranh khi nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 90% trong 5 năm qua.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

  • Cà phê: Giá cà phê Robusta tại thị trường nội địa đầu tháng 10/2026 có xu hướng giảm. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2026 tăng 16,3% về lượng, nhưng giảm 6,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025 do giá xuất khẩu giảm. Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Pháp tăng từ 7,23% trong 7 tháng đầu năm 2025 lên 10,34% trong 7 tháng đầu năm 2026.
  • Hạt điều: Lượng hạt điều xuất khẩu của Việt Nam giảm tháng thứ ba liên tiếp trong tháng 9/2026. Thị phần hạt điều của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan 8 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm 2025.
  • Rau quả: Tháng 9/2026, xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam tiếp tục đạt mốc trên 1 tỷ USD. Thị phần rau quả của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc tăng.
  • Sắn và sản phẩm từ sắn: 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn của Việt Nam giảm 22,1% về lượng và giảm 3,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần sắn lát và tinh bột sắn của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc tăng.
  • Gỗ và sản phẩm gỗ: 9 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần đồ nội thất bằng gỗ của Việt Nam trong tổng trị giá nhập khẩu của Hoa Kỳ tăng.

THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ

Đầu tháng 10/2026, giá cà phê trên thị trường thế giới giảm nhẹ do nguồn cung từ Bra-xin tăng. Tuy nhiên, đà giảm giá được hạn chế bởi lượng tồn kho cà phê Robusta thu hẹp và nguồn cung cà phê Arabica tại một số nước sản xuất giảm. Giá cà phê Robusta tại thị trường nội địa đầu tháng 10/2026 giảm, dao động từ 91.200 –
92.000 đồng/kg.
Xuất khẩu cà phê của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2026 tăng 16,3% về lượng, nhưng giảm 6,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, do giá xuất khẩu giảm.
Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Pháp tăng từ 7,23% trong 7 tháng đầu năm 2025 lên 10,34% trong 7 tháng đầu năm 2026.

THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI

Trong những ngày đầu tháng 10/2026, giá cà phê thế giới có xu hướng giảm do áp lực nguồn cung khi xuất khẩu của Bra-xin tăng. Tuy nhiên, đà giảm được hạn chế bởi lượng tồn kho cà phê Robusta được chứng nhận trên sàn ICE thu hẹp và nguồn cung cà phê Arabica tại một số nước sản xuất giảm.

Theo Hội đồng các nhà xuất khẩu cà phê Bra-xin, tháng 9/2026, xuất khẩu cà phê nhân của nước này đạt 3,58 triệu bao (loại 60 kg), tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu cà phê Robusta và Conilon tăng 65,1%, đạt 813,9 nghìn bao. Nguồn cung xuất khẩu từ Bra-xin tăng, tập trung ở nhóm cà phê Robusta và Conilon, đã tạo sức ép lên giá cà phê trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, tồn kho cà phê Robusta được chứng nhận trên sàn ICE giảm xuống còn 5.115 lô vào ngày 09/10/2026, mức thấp nhất trong hai tuần rưỡi, góp phần hỗ trợ giá. Đối với cà phê Arabica, xuất khẩu của Bra-xin trong tháng 9/2026 giảm 7,1% so với cùng kỳ năm 2025, còn 2,766 triệu bao. Bên cạnh đó, theo Liên đoàn Cà phê Cô-lôm-bi-a, sản lượng cà phê nước này trong niên vụ 2025–2026 giảm 15% so với niên vụ trước, còn 12,65 triệu bao; xuất khẩu giảm 12%, còn 11,78 triệu bao. Sự suy giảm nguồn cung cà phê Arabica tại hai nước sản xuất lớn góp phần hạn chế áp lực giảm giá trên thị trường.

 

 

thị trường cà phê

Trên sàn giao dịch London, ngày 9/10/2026, giá cà phê Robusta giao kỳ hạn tháng 11/2026 và tháng 01/2027 cùng giảm 0,7% so với ngày 01/10/2026, xuống mức 3.423 USD/tấn và 3.398 USD/tấn.

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

Trên sàn giao dịch New York, ngày 9/10/2026, giá cà phê Arabica giao kỳ hạn tháng 3/2027 và tháng 5/2027 giảm lần lượt 0,5% và 0,7% so với ngày 01/10/2026, xuống mức 281,35 UScent/lb và 277,9 UScent/lb.

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

+ Trên sàn giao dịch BMF của Bra-xin, ngày 9/10/2026, giá cà phê Arabica giao kỳ hạn tháng 3/2027 khá ổn định, trong khi kỳ hạn tháng 5/2027 giảm 0,8% so với ngày 01/10/2026, đạt lần lượt 351,5 UScent/lb và 342,05 USent/lb.

TRONG NƯỚC: GIÁ CÀ PHÊ ROBUSTA GIẢM

Những ngày đầu tháng 10/2026, giá cà phê nội địa giảm theo đà giảm của giá cà phê thế giới. Tuy nhiên, nguồn cung cuối vụ hạn chế cùng nhu cầu thu mua phục vụ xuất khẩu duy trì đã góp phần hạn chế đà giảm. Cụ thể, giá cà phê tại các tỉnh Đắc Lăk, Lâm Đồng, Gia Lai và Đắk Nông vào ngày 9/10/2026 cùng giảm 2.800 đồng/kg so với ngày 01/10/2026, dao động từ 91.200 – 92.000 đồng/kg (tùy từng khu vực khảo sát).

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM TRONG 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2026

Theo số liệu từ Cục Hải quan, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tháng 9/2026 đạt 122,7 nghìn tấn, trị giá 554,6 triệu USD, giảm 4,0% về lượng và giảm 3,0% về trị giá so với tháng 8/2026, nhưng tăng 51,3% về lượng và tăng 20,1% về trị giá so với tháng 9/2025. Tính chung 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 1,45 triệu tấn, trị giá 6,57 tỷ USD, tăng 16,3% về lượng, nhưng giảm 6,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Trong những tháng cuối năm 2026, xuất khẩu cà phê của Việt Nam dự báo sẽ khởi sắc nhờ nguồn cung được bổ sung từ vụ thu hoạch mới và nhu cầu nhập khẩu phục vụ mùa tiêu dùng cuối năm. Nhu cầu cà phê Robusta dùng để phối trộn được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ xuất khẩu. Với lợi thế về nguồn cung cà phê Robusta, Việt Nam có cơ hội nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị phần khi chất lượng ổn định, giá chào bán cạnh tranh và khả năng đáp ứng đơn hàng kịp thời.

Về giá: Tháng 9/2026, giá bình quân xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 4.519 USD/tấn, tăng 1,1% so với tháng 8/2026, nhưng giảm 20,6% so với tháng 9/2025. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, giá bình quân xuất khẩu cà phê đạt 4.524 USD/ tấn, giảm 20,0% so với cùng kỳ năm 2025.

Cơ cấu thị trường: Tháng 9/2026, lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang hầu hết các thị trường lớn đều tăng so với tháng 9/2025, đặc biệt là xuất khẩu tới Đức và Trung Quốc với mức tăng lần lượt 187,0% và 123,8%, đóng góp tích cực vào kết quả xuất khẩu chung của ngành cà phê.

Tính chung 9 tháng đầu năm 2026, châu Âu tiếp tục là khu vực xuất khẩu chủ lực của cà phê Việt Nam. Trong đó, xuất khẩu sang các thị trường lớn như Đức, Ý, Tây Ban Nha và Bỉ đều tăng về lượng so với cùng kỳ năm trước. Tại khu vực châu Á, xuất khẩu cà phê Việt Nam ghi nhận những tín hiệu tích cực, trong đó nổi bật là hai thị trường Trung Quốc và Nhật Bản.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 54,6 nghìn tấn, trị giá 279,6 triệu USD, tăng 48,8% về lượng và tăng 53,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 95,9 nghìn tấn, trị giá 473,1 triệu USD, tăng 25,6% về lượng nhưng giảm nhẹ 1,4% về trị giá do giá xuất khẩu giảm. Lượng xuất khẩu cà phê tới cả hai thị trường này tăng cho thấy nhu cầu nhập khẩu cà phê Việt Nam tiếp tục gia tăng.

Với khu vực châu Mỹ, xuất khẩu cà phê sang Hoa Kỳ tăng trưởng khả quan với 103,4 nghìn tấn, trị giá 441,2 triệu USD, tăng 46,0% về lượng và tăng 13,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, góp phần bù đắp diễn biến xuất khẩu kém thuận lợi tới một số thị trường khác. Trong thời gian tới, việc củng cố các thị trường chủ lực, mở rộng đầu ra và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng sẽ là hướng đi cần thiết để nâng cao hiệu quả xuất khẩu.

Tại khu vực châu Phi và một số thị trường khác, xuất khẩu cà phê sang An-giê-ri tiếp tục tăng trưởng, với lượng xuất khẩu tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này góp phần mở rộng thị trường cho cà phê Việt Nam, đóng góp tích cực trong việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

THỊ TRƯỜNG HẠT ĐIỀU

Trong quý 3/2026, các yếu tố cơ bản của thị trường hạt điều toàn cầu được đặc trưng bởi giá hạt điều thô cao và giá hạt điều nguyên hạt ổn định.
Tháng 9/2026, lượng hạt điều xuất khẩu của Việt Nam giảm tháng thứ ba liên tiếp. Trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang Trung Quốc tăng mạnh.
Thị phần hạt điều của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan 8 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm 2025.

 

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

THỊ TRƯỜNG HẠT ĐIỀU THẾ GIỚI

Đầu tháng 10/2026, giá hạt điều Việt Nam tăng nhẹ sau nhiều tháng giao dịch đi ngang, với các loại hạt điều nguyên hạt WW320 và WW240 ghi nhận những biến động đáng kể đầu tiên kể từ tháng 7. Thị trường đang chuyển từ giai đoạn đi ngang kéo dài sang xu hướng tăng nhẹ. Người mua nhận thấy tín hiệu tích cực hơn từ các nhà chế biến Việt Nam khi chi phí hạt điều thô tăng và nhu cầu bán ra trong thời gian ngắn giảm, trong khi nhu cầu hạt điều của Ấn Độ trong mùa lễ hội vẫn mạnh mẽ. Các loại hạt điều nguyên hạt bắt đầu tăng giá trước, nhưng các loại hạt điều nguyên hạt như hồi đầu năm. 

Theo dữ liệu từ nguồn commodity-board. com, ngày 7/10/2026, giá FOB tại Việt Nam đối với hạt điều đạt khoảng 7,10 USD/kg đối với loại WW320 và 8,00 USD/kg đối với loại WW240, tăng 0,10 USD mỗi loại và đánh dấu lần tăng giá đầu tiên đối với hạt điều thô kể từ tháng 7/2026. Yếu tố chính thúc đẩy xu hướng tăng hiện tại là sự kết hợp giữa giá hạt điều thô ổn định hơn tại
Việt Nam và nhu cầu nhân hạt điều mạnh mẽ tại Ấn Độ và châu Âu.

Về phía cầu, Ấn Độ tiếp tục tiêu thụ một lượng lớn nhân hạt điều, với nhu cầu mua trong nước được đánh giá là mạnh mẽ đối với hầu hết các loại. Đồng thời, nhập khẩu hạt điều thô của Ấn Độ trong 7 tháng đầu năm 2026 thấp hơn khoảng 8% so với cùng kỳ năm 2025, do sự chậm trễ vận chuyển từ Tây Phi và làm giảm lượng dự trữ trong chuỗi cung ứng nguyên liệu. 

Trong quý 3/2026, các yếu tố cơ bản của thị trường hạt điều toàn cầu được đặc trưng bởi giá hạt điều thô cao và giá hạt điều nguyên hạt ổn định, trong khi giá hạt điều vỡ tăng lên vào đầumùa. Dữ liệu từ Việt Nam xác nhận rằng các loại
hạt điều nguyên hạt như WW320 và WW240 giữ nguyên giá trong phần lớn mùa khan hiếm trước khi điều chỉnh giảm 0,10 USD/kg hiện tại.

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HẠT ĐIỀU CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu của Cục Hải quan, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam tháng 9/2026 đạt 64.888 tấn, trị giá 469,93 triệu USD, giảm 1,5% về lượng và giảm 1% về trị giá so với tháng 8/2026, giảm 10,6% về lượng và giảm 4,5% về trị giá so với tháng 9/2025. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam đạt 542.768 tấn, trị giá 3,84 tỷ USD, giảm 2,2% về lượng,
nhưng tăng 1,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. 

 

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

Tháng 9/2026, xuất khẩu hạt điều giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ năm 2025, nhưng vẫn ghi nhận xuất khẩu tới một số thị trường tăng trưởng tích cực. Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất, đạt 16.205 tấn, trị giá 124,77 triệu USD, tăng 1,1% về lượng và tăng 3,1% về trị giá so với tháng 8/2026, giảm 6,4% về lượng nhưng tăng 12,4% về trị giá so với tháng 9/2025. Đáng chú ý, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang các thị trường Bỉ, Ấn Độ, Ai Cập trong tháng 9/2026 ghi nhận mức tăng trưởng ba chữ số.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam ghi nhận đà tăng trưởng về trị giá, đặc biệt nhờ sự bứt phá mạnh mẽ về trị giá tại thị trường Trung Quốc. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu hạt điều lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2026, đạt 131.463 tấn, trị giá 964,02 nghìn USD, tăng 4,6% về lượng và tăng 20,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. 

Xuất khẩu hạt điều sang thị trường Hoa Kỳ cũng ghi nhận tăng trưởng khả quan. Trong 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ 114.225 tấn hạt điều, trị giá 782,38 nghìn USD, tăng 6,2% về lượng và tăng 8,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Xuất khẩu hạt điều sang Trung Quốc và Hoa Kỳ chiếm 45,2% tổng lượng hạt điều xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2026, tăng so với tỷ trọng 42,02% của cùng kỳ năm 2025, trong đó tỷ trọng xuất khẩu tới Trung Quốc tăng từ 22,6% trong 9 tháng đầu năm 2025 lên 24,2% trong 9 tháng đầu năm 2026, tỷ trọng xuất khẩu tới Hoa Kỳ tăng từ 19,3% lên 21%.

Ở các vị trí kế tiếp, tỷ trọng xuất khẩu tới Đức, Ca-na-đa, Úc, Thái Lan, Tây Ban Nha cũng tăng trong 9 tháng đầu năm 2026.

THỊ TRƯỜNG RAU QUẢ

Thị trường tinh chất cam quýt toàn cầu dự kiến tăng từ 17,94 tỷ USD năm 2025 lên 18,77 tỷ USD năm 2026 và đạt 23,72 tỷ USD vào năm 2031. Phi-líp-pin xuất khẩu lô chuối Cardava đông lạnh đầu tiên sang Úc. Tháng 9/2026, xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam tiếp tục đạt mốc trên 1 tỷ USD. Thị phần rau quả của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc tăng.

THỊ TRƯỜNG RAU QUẢ THẾ GIỚI

Thị trường nước ép cam quýt cô đặc toàn cầu: Thị trường tinh chất cam quýt toàn cầu dự kiến tăng từ 17,94 tỷ USD năm 2025 lên 18,77 tỷ USD năm 2026 và đạt 23,72 tỷ USD vào năm 2031, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) đạt 4,80% trong giai đoạn 2026–2031. Thị trường được thúc đẩy bởi xu hướng gia tăng sử dụng các thành phần có nguồn gốc tự nhiên trong thực phẩm, đồ uống và thực phẩm chức năng.

Nhu cầu cũng được hưởng lợi từ sự mở rộng của các sản phẩm đồ uống pha sẵn và đồ uống chức năng, qua đó đặt ra yêu cầu về công thức tinh chất có chất lượng ổn định, đáp ứng các ứng dụng cụ thể. Các nhà chế biến ngày càng chú trọng đến thông số kỹ thuật chất lượng, hiệu suất chức năng và tính nhất quán của công thức thay vì chỉ cạnh tranh về giá cả hàng hóa. Đồng thời, các sáng kiến bền vững trong thu hồi các hợp chất có giá trị từ các sản phẩm phụ của quá trình chế biến cam quýt đang thúc đẩy các nhà sản xuất tối ưu hóa sản xuất và sử dụng tài nguyên. Việc phát triển các sản phẩm mới, công thức nhãn sạch và mở rộng ứng dụng trong thực phẩm, đồ uống được dự báo sẽ hỗ trợ tăng trưởng ổn định của thị trường.

Phi-líp-pin xuất khẩu lô chuối Cardava đông lạnh đầu tiên sang Úc: Sở Nông nghiệp vùng Davao (Phi-líp-pin) vừa phối hợp thực hiện chuyến hàng xuất khẩu chính ngạch đầu tiên gồm 7.000 kg chuối Saba (chuối Cardava) hấp nguyên quả đông lạnh sang thị trường Úc. Lô hàng do công ty Golden Flavours chế biến, sử dụng nguồn chuối thu hoạch đạt độ chín từ 90 đến 100% và áp dụng công nghệ cấp đông nhanh ở -18°C nhằm kéo dài thời hạn sử dụng lên đến một năm. Chuyến hàng xuất khẩu khởi
hành vào ngày 3/10/2026 và dự kiến cập cảng Úc vào ngày 3/11/2026, sáng kiến này mở ra cơ hội lớn sau Triển lãm Quốc tế Sabah 2026 nhằm đưa nông sản Phi-líp-pin tiếp cận sâu hơn vào phân khúc quốc tế.

sử dụng chitosan bảo quản trái cây

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM TRONG THÁNG 9 VÀ 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2026

Theo số liệu từ Cục Hải quan, trong tháng 9/2026, xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam đạt 1,13 tỷ USD, giảm 17,8% so với tháng 8/2026 và giảm 13,9% so với tháng 9/2025. Mặc dù, xuất khẩu trong tháng 9/2026 giảm, nhưng đây là tháng thứ ba liên tiếp trị giá xuất khẩu hàng rau quả vượt mốc 1 tỷ USD trong một tháng. Tính chung 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam đạt 7,28 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2025. 

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

Xuất khẩu hàng rau quả Việt Nam những tháng cuối năm 2026 dự kiến sẽ tiếp tục khả quan nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao tại Trung Quốc, các nước châu Á, thị trường châu Âu và châu Mỹ. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng ổn định tại các thị trường quy mô lớn này, các doanh nghiệp xuất khẩu đang phải đối mặt với áp lực ngày càng khắt khe về hàng rào kỹ thuật. Điều này đòi hỏi toàn ngành phải chủ động kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, tuân thủ chặt chẽ quy định về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng.

DUNG LƯỢNG THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU HÀNG RAU QUẢ CỦA TRUNG QUỐC TRONG 8 THÁNG ĐẦU NĂM 2026 VÀ THỊ PHẦN CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu thống kê từ Cơ quan Hải quan Trung Quốc, 8 tháng đầu năm 2026, trị giá nhập khẩu hàng rau, hoa, củ, quả và sản phẩm chế biến (mã HS 06, 07, 20 và 08 – không bao gồm hạt điều có mã HS 080131; 080132) của Trung Quốc đạt 19,13 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2025.

8 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu hàng rau, hoa, củ, quả và sản phẩm chế biến lớn nhất từ 5 thị trường gồm: Thái Lan, Việt Nam, Chi-lê, Niu-Di-Lân và Úc. Trong đó, nhập khẩu mặt hàng này từ 3 thị trường Thái Lan, Việt Nam, Niu-Di-Lân tăng so với cùng kỳ năm 2025, trong khi nhập khẩu từ Chi-lê và Úc giảm.

Thái Lan là nguồn cung hàng rau, hoa, củ, quả và sản phẩm chế biến lớn nhất cho thị trường Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm 2026, đạt 6,05 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần mặt hàng này của Thái Lan trong tổng trị giá nhập khẩu của Trung Quốc chiếm 35,8% trong 8 tháng đầu năm 2026, cao hơn so với thị phần 35,1% trong 8 tháng đầu năm 2025.

Việt Nam là nguồn cung hàng rau, hoa, củ, quả và sản phẩm chế biến lớn thứ hai cho thị trường Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm 2026, đạt 4,04 tỷ USD, tăng 32,4% so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần mặt hàng này của Việt Nam trong tổng trị giá nhập khẩu của Trung Quốc chiếm 21,1% trong 8 tháng đầu năm 2026, cao hơn so với thị phần 17% trong 8 tháng đầu năm 2025.

Tiếp theo, Chi-lê là nguồn cung lớn thứ ba hàng rau, hoa, củ, quả và sản phẩm chế biến (mã HS 06, 07, 20 và 08 – không bao gồm hạt điều có mã HS 080131; 080132) cho thị trường Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm 2026, đạt 2,35 tỷ USD, giảm 22,4% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 12,3% thị phần trong 8 tháng đầu năm 2026, thấp hơn so với thị phần 16,8% trong 8 tháng đầu năm 2025.

THỊ TRƯỜNG SẮN VÀ SẢN PHẨM TỪ SẮN

Đầu tháng 10/2026, thị trường sắn Thái Lan ghi nhận giá tinh bột sắn điều chỉnh giảm nhẹ, trong khi giá sắn lát xuất khẩu và giá sắn nguyên liệu duy trì ổn định. Xuất khẩu sắn và tinh bột sắn của Thái Lan giảm mạnh trong 8 tháng đầu năm 2026, Trung
Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ chủ lực. 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn của Việt Nam giảm 22,1% về lượng và giảm 3,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu 4,67 triệu tấn sắn lát và tinh bột sắn, giảm 42,6% so với cùng kỳ năm 2025. Việt Nam dẫn đầu nguồn cung sắn lát và tinh bột sắn cho Trung Quốc.

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Thái Lan: Đầu tháng 10/2026, thị trường sắn Thái Lan ghi nhận giá tinh bột sắn điều chỉnh giảm nhẹ, trong khi giá sắn lát xuất khẩu và giá sắn nguyên liệu duy trì ổn định. Tuy nhiên, ngành sắn nước này đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu do dịch bệnh, thời tiết bất lợi, diện tích canh tác thu hẹp và gián đoạn thương mại biên giới với Căm-pu-chia, gây sức ép lên hoạt
động chế biến và năng lực xuất khẩu.

Theo Hiệp hội Tinh bột sắn Thái Lan, ngày được điều chỉnh xuống còn 695 USD/tấn FOB, giảm 5 USD/tấn so với cuối tháng 9/2026; Giá tinh bột sắn nội địa giảm 0,1 Baht/kg, xuống còn 22 Baht/kg. Trong khi đó, Hiệp hội Thương mại khoai mì Thái Lan giữ nguyên giá sắn lát xuất khẩu ở mức 255-265 USD/tấn FOB cảng Bangkok; Giá sắn nguyên liệu cũng ổn định trong khoảng 3,7-4,3 Baht/kg, không thay đổi so với cuối tháng 9/2026.06/10/2026, giá sàn xuất khẩu tinh bột sắn.

Theo cảnh báo của bốn Hiệp hội ngành sắn Thái Lan, nguồn cung nguyên liệu đang chịu sức ép từ bệnh khảm lá sắn, hạn hán, diện tích canh tác thu hẹp và gián đoạn thương mại biên giới với Căm-pu-chia. Những yếu tố này làm gia tăng nguy cơ thiếu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, ảnh hưởng đến khả năng duy trì sản xuất và thực hiện các đơn hàng xuất khẩu.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Đầu tháng 10/2026, nguồn cung sắn tại khu vực Tây Nguyên cải thiện nhờ thời tiết giảm mưa, tạo điều kiện để các nhà máy tăng hoạt động sản xuất. Tại Tây Ninh, lượng sắn củ tươi nhập khẩu từ Căm-pu-chia tăng do một số khu vực đẩy nhanh thu hoạch trước nguy cơ ngập lụt. Trong khi đó, tại miền Bắc, tinh bột sắn từ miền Nam được chào bán tại cảng Hải Phòng, góp phần bổ sung nguồn cung cho các ngành giấy, thực phẩm và công nghiệp.

Giá sắn nguyên liệu trong nước nhìn chung ổn định so với cuối tháng trước. Hiện giá thu mua theo hàm lượng tinh bột 30% tại Tây Ninh dao động từ 146,6-153,3 Đồng/độ bột; Đắk Lắk từ 126,6-140 Đồng/độ bột; Quảng Ngãi từ 130- 133,3 Đồng/độ bột; Gia Lai từ 133,3-140 Đồng/ độ bột. Riêng khu vực miền Trung ghi nhận mức giá 100-105 Đồng/độ bột, tăng 3,4 Đồng/độ bột
so với cuối tháng trước.

XUẤT KHẨU SẮN VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ SẮN CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu được 135,82 nghìn tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, với trị giá 76,6 triệu USD, giảm 18,2% về lượng và giảm 9,1% về trị giá so với tháng 8/2026; So với tháng 9/2025 giảm 49,7% về lượng và giảm 14,3% về trị giá. Đây là tháng thứ 5 liên tiếp xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn giảm về lượng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 thángđầu năm 2026, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đạt trên 2,4 triệu tấn, trị giá 917,08 triệu USD, giảm 22,1% về lượng và giảm 3,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Xu hướng xuất khẩu giảm kéo dài cho thấy hoạt động xuất khẩu sắn vẫn đối mặt với những khó khăn đáng kể.

 

 

 

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

THỊ TRƯỜNG GỖ VÀ SẢN PHẨM GỖ

Ngành nội thất Bỉ chịu sức ép cạnh tranh khi nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 90% trong 5 năm qua. Trung Quốc dẫn đầu xuất khẩu đồ nội thất toàn cầu, Việt Nam và các nước châu Âu gia tăng vị thế.
9 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2025; Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần đồ nội thất bằng gỗ của Việt Nam trong tổng trị giá nhập khẩu của Hoa Kỳ tăng.

Rừng gỗ lớn: doanh nghiệp đề xuất gỡ nút thắt quy hoạch vùng trồng

THỊ TRƯỜNG GỖ VÀ SẢN PHẨM GỖ THẾ GIỚI

Bỉ: Dẫn nguồn interiordaily.com, ngành nội thất Bỉ ngày càng chịu sức ép cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Trung Quốc do giá bán thấp. Theo Liên đoàn ngành Fedustria, nhập khẩu đồ nội thất từ Trung Quốc đã tăng 90% trong 5 năm qua, đạt 884 triệu Eur trong năm 2025 và 683 triệu Eur chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, chiếm 33,3% tổng trị giá nhập khẩu đồ nội thất của Bỉ, tỷ
trọng có thể tăng lên 50% trong những năm tới.
Các nhà sản xuất Bỉ và châu Âu lo ngại hàng Trung Quốc được bán với giá khó cạnh tranh, đồng thời có nguy cơ gia tăng tình trạng bán phá giá tại thị trường châu Âu trong bối cảnh doanh nghiệp Trung Quốc chuyển hướng xuất khẩu do các biện pháp thuế quan của Mỹ.

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GỖ VÀ SẢN PHẨM GỖ CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu thống kê từ Cục Hải quan, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 9/2026 đạt 1,5 tỷ USD, giảm 5,2% so với tháng 8/2026, nhưng tăng 9,5% so với tháng 9/2025; Trong đó, trị giá xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 982 triệu USD, giảm 5,1% so với tháng 8/2026, nhưng tăng 3,4% so với tháng 9/2025.Tính chung 9 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 13,3 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2025; Trong đó, trị giá xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 8,6 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Bảng Tin Thị Trường Nông Lâm Thủy Sản Tháng 10/2026

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành gỗ Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2026, đạt 6,68 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ trọng xuất khẩu tới thị trường này giảm từ 55,7% xuống 50,2%, nhưng vẫn cho thấy mức độ phụ thuộc vào thị trường chủ lực vẫn lớn.

Ngược lại, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,98 tỷ USD, tăng 40,8% so với cùng kỳ năm 2025, đưa tỷ trọng thị trường này lên 14,9%, từ mức 11,3% trong cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu tới Nhật Bản tiếp tục duy trì vai trò quan trọng với trị giá xuất khẩu đạt 1,67 tỷ USD, tăng 6,7%; Trong khi đó, xuất khẩu sang Hàn Quốc giảm 13,2%, đạt 467,6 triệu USD.

Tại các thị trường khác, xuất khẩu ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực như: Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tới thị trường Hà Lan đạt 138,1 triệu USD, tăng 86,3%; Mê-hi-cô đạt 101,7 triệu USD, tăng 109,8%; Ca-na-đa đạt 233,7 triệu USD, tăng 12,1%; Anh đạt 196,3 triệu USD, tăng 10,3%; Ma-lai-xi-a đạt 136,4 triệu USD, tăng 10,5%; và Úc đạt 125,4 triệu USD, tăng 7,2%. Nhóm thị trường khác đạt gần 1,56 tỷ USD, tăng 22,0%, góp phần mở rộng cơ cấu thị trường xuất khẩu và giảm dần sự phụ thuộc tương đối vào các thị  trường truyền thống.

KẾT LUẬN

Trong 9 tháng đầu năm 2026, thị trường nông, lâm, thủy sản Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng không đồng đều giữa các nhóm hàng. Xuất khẩu rau quả và gỗ, sản phẩm gỗ tăng trưởng tích cực, trong khi cà phê giảm về trị giá, hạt điều chững lại và sắn tiếp tục suy giảm.

Thời gian tới, doanh nghiệp cần chủ động theo dõi biến động thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, tối ưu chi phí, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu bền vững.

Đánh giá
Cảm ơn quý bà con đã tham khảo. Nhà Bè Agri cung cấp các dịch vụ Tư vấn qua điện thoại, Khảo sát, Thiết kế, Phân tích hiệu quả dự án tưới, Báo giá thiết bị, Thi công lắp đặt hệ thống tưới. Xin vui lòng liên hệ Nhà Bè Agri

Để lại một bình luận