Sản xuất giảm phát thải đang được Gia Lai xác định là hướng đi trọng tâm trong lĩnh vực trồng trọt, gắn với mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị vùng nguyên liệu. UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh.
Kế hoạch này đặt ra các mục tiêu cụ thể cho từng nhóm cây trồng, đồng thời phân công trách nhiệm cho địa phương, sở ngành, doanh nghiệp, HTX và nông dân. Điểm nhấn của kế hoạch là không chỉ giảm phát thải khí nhà kính trong quá trình canh tác, mà còn từng bước xây dựng dữ liệu, mô hình và phương thức quản lý phù hợp để hướng tới thị trường tín chỉ carbon trong nông nghiệp.
Mục tiêu sản xuất giảm phát thải trên các cây trồng chủ lực
Theo kế hoạch, Gia Lai đặt mục tiêu đến năm 2035 triển khai ít nhất 8.000 ha lúa giảm phát thải tại các địa phương có điều kiện phù hợp. Đây là nhóm cây trồng được ưu tiên do sản xuất lúa có liên quan trực tiếp đến quản lý nước, phân bón, phụ phẩm đồng ruộng và phát thải khí nhà kính trong quá trình canh tác.
Cùng với cây lúa, tỉnh sẽ xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp giảm phát thải gắn với vùng nguyên liệu tập trung. Quy mô dự kiến gồm 2.000 ha mía, 1.000 ha chuối, 1.000 ha cà phê và 1.000 ha khoai mì, còn gọi là sắn. Việc lựa chọn các cây trồng này phù hợp với định hướng phát triển vùng nguyên liệu của tỉnh, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, HTX và nông dân cùng tham gia vào chuỗi sản xuất có kiểm soát phát thải.
Một mục tiêu quan trọng khác là tổ chức đào tạo, tập huấn cho ít nhất 1.000 cán bộ kỹ thuật, khuyến nông, nông dân và doanh nghiệp về kỹ thuật canh tác giảm phát thải. Đây là nền tảng để các mô hình không dừng ở trình diễn mà có thể được nhân rộng trong sản xuất thực tế, nhất là tại các địa phương có lợi thế về lúa, mía, chuối, cà phê và khoai mì.
Chuyển đổi cây trồng, nâng sức khỏe đất và giảm khí nhà kính
Để đạt mục tiêu đề ra, Gia Lai tập trung triển khai nhiều nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, tỉnh chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng kém hiệu quả sang trồng rau, đậu đỗ các loại, cây ăn quả, cây dược liệu, cây thức ăn chăn nuôi và các cây trồng khác có giá trị kinh tế cao, thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc chuyển đổi này không chỉ nhằm nâng thu nhập trên đơn vị diện tích, mà còn góp phần sử dụng tài nguyên đất và nước hợp lý hơn.
Đối với nhóm cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, kế hoạch nhấn mạnh vai trò vừa tăng hiệu quả kinh tế, vừa hấp thụ carbon. Cây lâu năm, nếu được quản lý theo hướng bền vững, có thể góp phần ổn định hệ sinh thái canh tác, cải thiện độ che phủ và tạo ra lợi ích môi trường song hành với lợi ích sản xuất.
Trong sản xuất lúa, tỉnh định hướng phát triển mô hình “1 vụ lúa, 1 vụ màu” hoặc “1 vụ lúa, 2 vụ màu”. Cách tổ chức mùa vụ này được kỳ vọng giúp nâng cao sức khỏe đất, giảm áp lực canh tác lúa liên tục và giảm phát thải. Khi cây màu được đưa vào luân canh, đất có thêm thời gian phục hồi, đồng thời nông dân có thể đa dạng hóa sản phẩm và nguồn thu.
Các gói kỹ thuật và công nghệ số trong canh tác
Gia Lai sẽ đẩy mạnh áp dụng các gói kỹ thuật canh tác giảm phát thải, trong đó có tưới tiết kiệm nước, tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân, quy trình “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng” và hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI. Những giải pháp này hướng tới sử dụng nước, phân bón, giống và thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả hơn, từ đó giảm chi phí đầu vào và hạn chế tác động môi trường.
Bên cạnh kỹ thuật canh tác, kế hoạch cũng nhấn mạnh việc tăng cường sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh, giảm thuốc bảo vệ thực vật hóa học và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tuần hoàn. Đây là nhóm giải pháp có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng đất, độ an toàn của nông sản và khả năng duy trì sản xuất lâu dài trên cùng một vùng nguyên liệu.
Một hướng đi đáng chú ý là khuyến khích ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất như cảm biến thông minh điều tiết nước, bón phân, phân tích đất và giám sát phát thải. Khi dữ liệu canh tác được theo dõi đầy đủ hơn, việc đánh giá hiệu quả của sản xuất giảm phát thải sẽ có cơ sở rõ ràng, hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp điều chỉnh quy trình theo điều kiện thực tế.
Tỉnh cũng định hướng tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất than sinh học, phân bón hữu cơ nhằm tăng khả năng hấp thụ carbon và giảm phát thải khí nhà kính. Việc sử dụng phụ phẩm theo hướng tuần hoàn giúp hạn chế lãng phí tài nguyên, đồng thời tạo thêm giá trị từ những phần còn lại sau thu hoạch.
Mô hình tại địa phương và vai trò của doanh nghiệp
Theo kế hoạch, nhiều mô hình sản xuất giảm phát thải sẽ được triển khai trên các cây trồng chủ lực của tỉnh. Trong lĩnh vực lúa, các mô hình sẽ tập trung tại những địa phương như Bình Khê, Tuy Phước Bắc, Phù Mỹ Nam, Hoài Ân, Chư A Thai, Phú Thiện. Đây là các khu vực được xác định có điều kiện phù hợp để triển khai các biện pháp kỹ thuật và tổ chức sản xuất theo định hướng mới.
Đối với cây công nghiệp và cây ăn quả, Gia Lai sẽ xây dựng các mô hình giảm phát thải trên vùng nguyên liệu mía của các nhà máy đường, vùng cà phê của doanh nghiệp, HTX và các vùng sản xuất chuối tập trung. Một số đơn vị tham gia triển khai mô hình gồm Công ty TNHH Sản xuất và Dịch vụ Tam Ba, Công ty Cổ phần chè Bàu Cạn, Công ty Cà phê Đăk Đoa, Công ty TNHH Vĩnh Hiệp.
Vai trò của doanh nghiệp được đặt ở vị trí quan trọng, bởi các vùng nguyên liệu tập trung thường gắn với nhu cầu chế biến, tiêu thụ và truy xuất nguồn gốc. Tỉnh khuyến khích doanh nghiệp chủ động phối hợp với ngành nông nghiệp và môi trường, chính quyền địa phương để xây dựng mô hình trên vùng nguyên liệu; đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại trong canh tác, thu hoạch, chế biến nhằm giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Cùng với đó, doanh nghiệp được khuyến khích tham gia xây dựng thị trường tín chỉ carbon và phát triển các dự án nông nghiệp carbon thấp. Đây là hướng tiếp cận mới, đòi hỏi quy trình sản xuất phải có khả năng đo lường, báo cáo, thẩm định và chứng minh mức giảm phát thải một cách minh bạch.
Dữ liệu phát thải và tổ chức thực hiện đồng bộ
Gia Lai sẽ phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu về phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực trồng trọt, kết nối với hệ thống kiểm kê khí nhà kính quốc gia. Cơ sở dữ liệu này phục vụ truy xuất nguồn gốc môi trường và hướng tới tiếp cận thị trường tín chỉ carbon. Trong bối cảnh yêu cầu về sản xuất bền vững ngày càng rõ nét, dữ liệu phát thải sẽ là nền tảng để chứng minh chất lượng môi trường của nông sản.
Tỉnh cũng xác định nâng cao nhận thức cho người dân, doanh nghiệp và cán bộ kỹ thuật là yếu tố then chốt. Các chương trình truyền thông, tập huấn chuyên sâu về kỹ thuật canh tác giảm phát thải, hệ thống đo lường – báo cáo – thẩm định và tín chỉ carbon sẽ được triển khai thường xuyên trong giai đoạn 2026-2035.
Về tổ chức thực hiện, UBND tỉnh Gia Lai giao các xã, phường căn cứ mục tiêu và định hướng của kế hoạch để xây dựng chương trình sản xuất giảm phát thải phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Các địa phương sẽ triển khai mô hình trồng trọt giảm phát thải gắn với cây trồng chủ lực, vận động người dân, HTX và doanh nghiệp tham gia. Đồng thời, nội dung này được lồng ghép vào chương trình xây dựng nông thôn mới và chuyển đổi cơ cấu cây trồng của địa phương.
Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì tham mưu UBND tỉnh tổ chức thực hiện kế hoạch, xây dựng và nhân rộng các mô hình phù hợp. Sở cũng có nhiệm vụ tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ kỹ thuật, HTX, doanh nghiệp và nông dân về quy trình canh tác giảm phát thải; tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm thúc đẩy chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, bền vững.
Sở Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp đề xuất, triển khai các đề tài, dự án khoa học phục vụ sản xuất trồng trọt giảm phát thải. Sở Tài chính phối hợp tham mưu bố trí nguồn kinh phí thực hiện theo khả năng cân đối ngân sách địa phương. Các sở, ngành liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ để phối hợp triển khai đồng bộ các nội dung của kế hoạch.
Với kế hoạch hành động giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050, Gia Lai đang tạo khung triển khai rõ ràng cho sản xuất giảm phát thải trong trồng trọt. Nếu được thực hiện đồng bộ từ kỹ thuật, tổ chức sản xuất, dữ liệu phát thải đến sự tham gia của doanh nghiệp và nông dân, các vùng trồng chủ lực của tỉnh có thêm cơ hội nâng cao giá trị, thích ứng khí hậu và tiến gần hơn tới nền nông nghiệp carbon thấp.

