Chế độ ăn uống của quốc gia Nhật Bản vào thời cổ đại bị ảnh hưởng nặng nề bởi khu vực địa lý, vì Nhật Bản vốn là đảo quốc có nhiều hòn đảo vây quanh. Các loại thực phẩm, thói quen ăn uống được du nhập từ các quốc gia Châu Á cận kề, tín ngưỡng tôn giáo. Họ đánh giá cao tính thẩm mỹ của món ăn, không chỉ riêng hương vị.

Hạt kê được thay thế cho gạo và là lương thực chính ở Nhật Bản. Người dân thích ăn hải sản hơn so với thịt, một phần là hải sản rất phong phú tại Nhật, một phần là do tín ngưỡng tôn giáo Phật Giáo. Từ thế kỷ thứ 6 sau Công Nguyên, quốc gia này phần lớn đã cấm giết hại động vật và chim. Một loạt trái cây và rau củ quả luôn có sẵn, trà và rượu sake là thức uống phổ biến, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.

Địa lý & Thời tiết

Tính chất địa lý của Nhật Bản rất đa dạng, do đó, mỗi vùng có khả năng nông nghiệp khác nhau. Lưu vực biển nội địa giữa Honshu và Shikoku được hưởng lợi từ những cơn mưa lớn trong mùa sinh trưởng. Mưa chậm hoặc bão sớm có thể phá hủy mùa màng. Ngược lại, phía tây bắc của Honshu nhận được gió lạnh và tuyết quét từ châu Á.

Các vị thần bảo vệ nền nông nghiệp Nhật Bản

Với sự bất thường khó đoán và sự tàn phá của thiên nhiên có thể quét sạch mùa màng, không có gì đáng ngạc nhiên khi người Nhật cổ đại tin tưởng vào các vị thần để bảo vệ mùa màng.

Thực phẩm (shokumotsu) có thể có các vị thần của riêng mình. Có một nữ thần thực phẩm cổ xưa từ Ise, và Inari được thành lập như một vị thần gạo quốc gia sau khi các vị thần lúa địa phương đã bảo vệ nông dân và hứa cho họ một vụ mùa bội thu khi họ nhận được những lễ vật phù hợp. Ngay cả những cánh đồng lúa cũng có linh thần Shinto bảo vệ của riêng họ, ta no kami. Một phần quan trọng của nông nghiệp là các nghi lễ và nghi lễ tôn giáo, đặc biệt là khoảng thời gian gieo hạt và thu hoạch, nhằm đảm bảo một vụ mùa tốt và bảo vệ mùa vụ khỏi thảm họa. Nghi lễ liên quan đến gạo là đặc biệt quan trọng và liên quan đến hoàng đế. Nạn đói cũng vậy, được thể hiện trong thần thoại là một bà già, người đã đặt bẫy cá để tước đoạt cá hồi nhưng cuối cùng đã bị anh hùng Okikurmi giết chết. Phật giáo cũng có các nhân vật liên quan đến thực phẩm, đặc biệt là Iorin, một biểu hiện của Kannon, người bảo trợ của ngư dân và Ida-ten, vị thần của bữa ăn trong các giáo phái Zen..

NÔNG NGHIỆP (NOGAKU) TẠI CỔ ĐẠI NHẬT BẢN, CHỦ YẾU TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI NGŨ CỐC & RAU.

Nền nông nghiệp vào thời cổ đại tại Nhật Bản chủ yếu tập trung trồng các loại ngũ cốc và rau, thịt chỉ được sản xuất với số lượng tương đối hạn chế. Các nguồn thực phẩm trong thời kỳ Jomon là kê và cỏ ăn được. Thực phẩm chủ yếu quan trọng nhất là gạo. . Những cánh đồng lúa sớm nhất xuất hiện ở phía tây nam và sau đó lan rộng về phía bắc. Những người nhập cư Yayoi cũng đã mang đậu azuki, đậu nành, lúa mì, và, từ Trung Quốc, thứ đã trở thành món ăn tuyệt hảo của Nhật Bản, sushi.

Nông nghiệp Nhật Bản vào thời cổ đại chậm phát triển và phải đến khi giới thiệu các công cụ và kỹ thuật sắt từ Hàn Quốc trong Thời kỳ Kofun thì tiến bộ mới đạt được hiệu quả. Ngay cả trong thời kỳ Nara, nông nghiệp vẫn phụ thuộc vào các công cụ nguyên thủy, không có đủ đất để chuẩn bị cho cây trồng và kỹ thuật tưới tiêu không đủ để ngăn chặn sự mất mùa và nạn đói thường. Có một số hỗ trợ của nhà nước dưới dạng cho vay gạo hạt giống vào thế kỷ thứ 9, nhưng lãi suất là từ 30 đến 50%. Chỉ có thời Kamakura và thời trung cổ mới thấy các kỹ thuật như cắt xén kép, chủng giống tốt hơn và sử dụng phân bón rộng hơn.

 

(Còn tiếp…)

One thought on “Nền nông nghiệp Nhật Bản – Thời cổ đại

  1. Vanthuhien viết:

    Hay

    (5/5)

Trả lời

Please rate*

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *