Tài chính xanh mở cơ hội từ thị trường carbon tại Việt Nam

Tài chính xanh mở cơ hội từ thị trường carbon tại Việt Nam

Tài chính xanh đang trở thành một trong những động lực quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu giảm phát thải, đặc biệt khi thị trường carbon, tín dụng xanh và trái phiếu xanh cùng được thúc đẩy. Sự kết hợp này không chỉ mở rộng kênh huy động vốn cho doanh nghiệp, mà còn tạo cơ chế đo lường rõ hơn đối với hiệu quả giảm phát thải khí nhà kính.

Trong bối cảnh cam kết Net Zero vào năm 2050 đòi hỏi nguồn lực rất lớn, các công cụ vốn xanh được nhìn nhận như cầu nối giữa mục tiêu môi trường và nhu cầu đầu tư thực tế. Khi doanh nghiệp có thể chứng minh kết quả giảm phát thải, cơ hội tiếp cận nguồn vốn dài hạn, lãi suất thấp và các gói tài trợ bền vững sẽ rõ ràng hơn.

Tài chính xanh cần nguồn lực lớn cho mục tiêu Net Zero

Theo ước tính từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), để hiện thực hóa cam kết Net Zero vào năm 2050, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD từ nay đến năm 2040, tương đương mức trung bình khoảng 20 tỷ USD mỗi năm. Trong khi ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng một phần nhỏ, tín dụng xanh và trái phiếu xanh được xác định là kênh quan trọng để thu hút dòng vốn từ các nhà đầu tư phát triển bền vững quốc tế.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy, tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống ngân hàng đạt khoảng 750 nghìn tỉ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2017 đến nay đạt trên 21%/năm, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Nhóm Big 4 ngân hàng thương mại lớn nhất gồm BIDV, Vietcombank, Agribank, VietinBank cùng các ngân hàng thương mại cổ phần năng động như MB, HDBank, VPBank đang dẫn đầu về cung ứng tín dụng xanh.

Theo bà Đặng Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Điều hành Công ty CP Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEP), các ngân hàng thương mại đã bắt đầu tích hợp danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời đưa các tiêu chí đánh giá rủi ro môi trường và xã hội (ESG) vào quy trình thẩm định theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước.

Mô hình phổ biến hiện nay là các ngân hàng chủ động huy động vốn với lãi suất thông thường, sau đó điều tiết để cung cấp các gói vay ưu đãi cho doanh nghiệp. Dòng vốn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, chiếm 39%, và hạ tầng xanh, chiếm 26%. Bà Hạnh nhận định, so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan với 8-10% hay Malaysia trên 15%, quy mô tín dụng xanh của Việt Nam là 5% cho thấy dư địa phát triển vẫn còn rất lớn.

Tín dụng xanh và trái phiếu xanh còn nhiều dư địa tăng trưởng

Cùng với tín dụng, thị trường trái phiếu xanh, xã hội và bền vững (GSS) cũng đang có những chuyển động đáng chú ý. Tổng dư nợ trái phiếu GSS đến cuối 2025 đạt khoảng 25.400 tỷ đồng, chỉ chiếm 2% tổng dư nợ trái phiếu doanh nghiệp. Tỷ trọng này còn khiêm tốn, song thị trường đang cho thấy đà tăng trưởng mạnh mẽ và chất lượng phát hành được cải thiện.

Khác với giai đoạn trước, các đợt phát hành gần đây đã bắt đầu tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA), có sự đánh giá độc lập nhằm thu hút các nhà đầu tư tổ chức lớn. Kỳ hạn trái phiếu hiện đạt mức bình quân trên 8 năm, với lãi suất dao động từ 5 – 6%. Đây là đặc điểm phù hợp với các dự án xanh dài hạn, vốn thường cần thời gian hoàn vốn dài và dòng tiền ổn định.

Theo bà Đặng Thị Hồng Hạnh, bức tranh phát hành trái phiếu xanh tại Việt Nam đang dần thay đổi nhờ sự tham gia đa dạng của nhiều thành phần kinh tế. Hà Nội và TP.HCM đã tiên phong phát hành trái phiếu quy mô lớn cho các dự án metro và hệ thống xử lý nước thải tập trung trọng điểm. Ở khu vực doanh nghiệp, thị trường không còn chỉ tập trung vào các tập đoàn lớn như Vingroup hay BIM Land, mà đã đón nhận thêm các đơn vị từ ngành dệt may, năng lượng tái tạo và nước sạch như Nước sạch Hòa Bình Xuân Mai, EVN Finance.

Ngân hàng và địa phương mở rộng kênh vốn xanh

Với các ngân hàng thương mại, nhiều ngân hàng lớn đã xây dựng khung trái phiếu xanh theo chuẩn quốc tế và phát hành thành công nhiều đợt ở thị trường trong nước cũng như quốc tế. Vietcombank phát hành 2.000 tỷ trái phiếu xanh vào tháng 11/2024 và tiếp tục phát hành 2.000 tỷ trái phiếu bền vững trong tháng 1/2026. Agribank và BIDV cũng đã có các đợt phát hành quy mô từ 3.000 – 5.000 tỷ đồng.

Để tăng thêm nguồn vốn tài chính xanh, các ngân hàng nội địa đang tích cực hợp tác với các định chế tài chính phát triển quốc tế như ADB, IFC, AFD, JBIC, WB nhằm tiếp cận nguồn vốn xanh dài hạn, lãi suất thấp. Trong đó, BIDV đã tiếp nhận gói tín dụng xanh 100 triệu USD từ AFD; HDBank ký kết khoản vay 70 triệu USD từ IFC; VPBank huy động 150 triệu USD từ JBIC để chuyên tài trợ cho các dự án năng lượng sạch và giảm phát thải.

Bước sang năm 2026, thị trường kỳ vọng có thêm đột phá thông qua việc thí điểm phát hành Trái phiếu Chính phủ xanh theo hướng dẫn của Thông tư 08/2026/TT-BTC. Về dài hạn, tầm nhìn đến năm 2050 của Việt Nam là xây dựng một hệ sinh thái tài chính xanh toàn diện, bao phủ các lĩnh vực trọng yếu như năng lượng, giao thông, xây dựng và nông nghiệp.

Thị trường carbon cộng hưởng với tài chính xanh

Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ Tài chính đang thực hiện các bước cuối cùng để chuẩn bị vận hành sàn giao dịch carbon trong nước. Thời điểm sàn giao dịch khai trương sẽ là bước tiến trong việc hình thành thị trường carbon của Việt Nam, tạo ra một luồng tài chính mới từ việc giao dịch kết quả giảm phát thải khí nhà kính.

Theo ông Kobayashi Kunihiro, Trung tâm Hợp tác môi trường hải ngoại Nhật Bản (OECC), doanh nghiệp phải cắt giảm phát thải theo mục tiêu chung của quốc gia, và quá trình này đòi hỏi nguồn đầu tư thích đáng. Các sản phẩm tài chính xanh như trái phiếu xanh, tín dụng xanh và các gói vay liên kết bền vững được thiết lập để hướng tới nhóm khách hàng có nhu cầu này.

Mối quan hệ giữa vốn xanh và giảm phát thải được thể hiện rõ qua Mục tiêu hiệu suất bền vững (SPT). Nghiên cứu của OECC tại khu vực ASEAN ghi nhận việc phát hành trái phiếu và gói vay liên kết bền vững đã sử dụng kết quả giảm phát thải khí nhà kính thực tế làm chỉ số đo lường hiệu suất. Điều này có nghĩa doanh nghiệp không chỉ cam kết bằng kế hoạch, mà phải chứng minh được lượng khí thải đã cắt giảm để làm căn cứ đánh giá hiệu quả đầu tư và hưởng ưu đãi về lãi suất.

Cơ chế này góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế tình trạng tẩy xanh, tức quảng cáo xanh giả tạo. Đồng thời, nó tạo ra sự kết nối chặt chẽ: tài chính xanh cung cấp vốn để doanh nghiệp giảm phát thải, còn kết quả giảm phát thải trở thành căn cứ giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn.

Với doanh nghiệp và tổ chức tham gia thị trường carbon, việc tuân thủ hạn ngạch phát thải khí nhà kính hoặc đầu tư dự án tạo tín chỉ carbon đủ tiêu chuẩn đều có thể đem lại lợi ích. Khi kết quả giảm phát thải thực tế được dùng làm SPT, doanh nghiệp có cơ sở rõ ràng hơn để giải trình hiệu quả sử dụng vốn với cơ quan quản lý và các ngân hàng phát triển, qua đó mở rộng cơ hội thụ hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất từ Chính phủ.

Như vậy, tuân thủ quy định về phát thải không chỉ là yêu cầu quản lý hay gánh nặng chi phí, mà đang dần trở thành chìa khóa để doanh nghiệp củng cố năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu thời kỳ Net Zero. Khi thị trường carbon vận hành cùng tín dụng xanh và trái phiếu xanh, Việt Nam có thêm nền tảng để huy động dòng vốn bền vững cho tăng trưởng xanh.

Đánh giá
Cảm ơn quý bà con đã tham khảo. Nhà Bè Agri cung cấp các dịch vụ Tư vấn qua điện thoại, Khảo sát, Thiết kế, Phân tích hiệu quả dự án tưới, Báo giá thiết bị, Thi công lắp đặt hệ thống tưới. Xin vui lòng liên hệ Nhà Bè Agri

Để lại một bình luận