+++Coperate contact info+++

Monthly Archives: Tháng Sáu 2014

Gần 250 triệu đồng mua xe tưới nước cho cỏ

Xe tưới tự cuốn – giải pháp tưới tự động cho cánh đồng lớn

Công ty TNHH Kim Ngân (xã Tân Hà, Lâm Hà – Lâm Đồng) vừa mua về từ Pháp 1 cỗ xe cuốn tưới tự động với tổng kinh phí gần 250 triệu đồng.

Cỗ xe tưới cỏ với bán kính đến 60m

Với hệ thống vận hành khép kín, cỗ xe bơm nước từ hồ chứa lên với công suất lớn, sau đó điều khiển bằng bảng hộp số để di chuyển với tốc độ tối đa 10km/giờ, phun vòi rồng tưới nước cho 9ha đồng cỏ trong bán kính từ 40 – 60m. Đây là đồng cỏ mà Công ty Kim Ngân trồng để nuôi đàn bò sữa 150 con mua về từ Thái Lan, trong đó có khoảng 75 con bò cho sữa; số còn lại để phối giống cung cấp cho nhu cầu chăn nuôi bò sữa của nông dân địa phương.

Nhà Bè Agri tự hào là đơn vị Tư vấn – thiết kế – cung cấp thiết bị cho dự án này.

VŨ VĂN

Hồ tiêu Lộc Ninh (Bình Phước) đón nhận “nhãn hiệu tập thể“

Hồ tiêu Lộc Ninh nhận “nhãn hiệu tập thể”

Đây là lần đầu tiên Bình Phước có một nông sản được cấp chứng nhận này.

Sáng 25/6, tại  tỉnh Bình Phước đã diễn ra lễ đón nhận giấy chứng nhận “nhãn hiệu tập thể” cho hồ tiêu Lộc Ninh do Cục Sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học- Công nghệ cấp.

Đây là lần đầu tiên Bình Phước có một nông sản được cấp chứng nhận này, mở ra cho nông dân một hướng đi mới trong sản xuất, giúp nâng cao giá trị, danh tiếng sản phẩm và tăng thu nhập.

Lộc Ninh được coi là thủ phủ của cây tiêu ở Bình Phước với diện tích khoảng 4.000 ha, chiếm trên 30% diện tích tiêu cả tỉnh với sản lượng gần 40%.

Cây tiêu có trên đất Lộc Ninh đã lâu đời và có uy tín trên thị trường quốc tế và trong 10 người trồng tiêu giỏi nhất của Việt Nam do Hiệp hội hồ tiêu bình chọn có tới 6 người ở Lộc Ninh.

Chính vì vậy, được đón nhận nhãn hiệu tập thể Hồ tiêu Lộc Ninh là sự kiện quan trọng đối với nông dân địa phương.

Ông Nguyễn Bá Thịnh, nông dân xã Lộc An, huyện Lộc Ninh bày tỏ: “Riêng cây tiêu mình phải áp dụng công nghệ bền vững để cùng phát triển. Nông dân Lộc Ninh nói riêng và Bình Phước nói chung tất cả cùng làm để cây tiêu Việt Nam xứng tầm với thế giới”.

Để đảm bảo xúc tiến thương mại có hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị kinh tế, tạo thế đứng bền vững cho hồ tiêu Lộc Ninh cần sự nỗ lực hơn nữa của các cấp, ngành và nông dân địa phương.

Người trồng tiêu phải thực hiện tốt việc sản xuất không hóa chất theo phương pháp bền vững; về phía địa phương cần quan tâm đến việc xây dựng nhà máy chế biến hồ tiêu trên địa bàn để làm thành chuỗi sản xuất và cung ứng sản phẩm.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam nói: “Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu hồ tiêu hàng đầu, chiếm tỷ trọng 50% toàn thế giới. Chính vì vậy thương hiệu hồ tiêu vô cùng quan trọng vì khi xây dựng một thương hiệu tốt thì sẽ đem lại lợi ích không chỉ cho đất nước mà cả cho người nông dân, giúp chúng ta khẳng định sản phẩm của mình trên thị trường toàn cầu”./.

 

CTV Trần Thể/ VOV-TP.HCM

Xin cho hỏi về độ bền của thiết bị tưới Nelson (Câu hỏi 7)

rotator_explained

Độ bền của một thương hiệu thiết bị tưới hàng đầu

Về cơ bản, thiết bị tưới của Nelson gồm các bộ phận như:

Thân béc, họng, đĩa, khớp nối (phần nhựa) và bộ phận Rotator.

Về phần thân nhựa của béc tưới, ai cũng biết hầu hết các sản phẩm thông thường đều có tuổi thọ giới hạn, và thường mau hỏng do hiện tượng não hóa, đặc biết khi tiếp xúc hàng ngày với ánh sáng mặt trời.

Đối với sản phẩm của Nelson thì ngược lại, các thành phần có thể dẫn đến hiện tượng não hóa, giòn, bong tróc đều đã được loại bỏ nên phần thân có độ bền được chứng minh lên tới 25 năm.

Về phần rotator – trái tim của béc tưới, gồm hệ thống trục, bạc đạn, hợp chất bôi trơn được chứng minh có thể hoạt động ổn định – tốt lên tới 10,000 giờ.

Giả sử, một thiết bị Nelson tưới với tần suất 3 ngày/lần; mỗi lần 3 giờ.

Vậy số giờ tưới 1 năm được tính như sau:

Số giờ hoạt động 1 tháng: 3 ngày/lần x 3 giờ x 10 lần/tháng = 90 giờ/tháng

Mỗi năm, giả sử tưới 7 tháng mùa khô, vậy số giờ hoạt động 1 năm: 90 giờ/tháng x 7 tháng = 630 giờ/năm.

Độ bền của bộ phận Rotator quy ra năm: 10,000 giờ : 630 giờ/năm = ~15 năm.

Vậy về cơ bản thiết bị tưới Nelson có độ bền rất cao, đầu tư 1 lần dùng mãi mãi.

HAGL được phép đầu tư nhà máy sữa công suất 500 triệu lít/năm

Ngành bò sữa Việt Nam

HAGL đầu tư vào ngành sữa

Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai đã cho phép Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) xây dựng nhà máy sữa công suất 500 triệu lít/năm tại Khu Công nghiệp Trà Đa, Thành phố Pleiku. Đây là một phần trong dự án có tổng vốn đầu tư hơn 16.138 tỉ đồng của Tập đoàn.

Nhà máy này thuộc dự án chăn nuôi bò thịt, bò sữa, chế biến sữa, thịt, thức ăn gia súc, sản xuất phân bón và trồng cây hồ tiêu của Công ty.

Quỹ đất ban đầu để thực hiện dự án là 4.000 ha (3.400 ha trồng cỏ, 600 ha dùng để đầu tư hạ tầng phục vụ chăn nuôi). Dự kiến, có 116.000 con bò thịt và 120.000 con bò sữa. Ngoài ra, nhà máy chế biến thịt gia súc cũng sẽ được xây dựng tại Khu Công nghiệp Trà Đa với công suất 78.000 tấn/năm.

Năm qua, theo Tổng cục Hải quan, Việt Nam nhập 162.989 con bò (tương đương 92.400 tấn thịt) với tổng giá trị là 86,8 triệu USD, chủ yếu từ Thái Lan và New Zealand. Tháng 2.2014, lần đầu tiên Việt Nam nhập khẩu 600 con trâu từ Úc về theo đường chính ngạch để giết thịt. Dự báo năm nay, Việt Nam có thể nhập khẩu hơn 150.000 con gia súc từ Úc. Đến năm 2015, theo cam kết AFTA, thuế nhập khẩu thịt gia cầm sẽ về 0%; năm 2018 sẽ áp dụng với thịt bò, thịt heo thì lượng thực phẩm từ các nước ASEAN đổ vào sẽ còn lớn hơn bởi giá thành thấp hơn Việt Nam

Sự dũng cảm của Đường Biên Hòa

Bỏ qua khâu trồng mía và sản xuất đường thô, năng lực cạnh tranh của BHS sẽ tăng lên đáng kể.

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa (BHS) và Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) là 2 cái tên đang gây ra tranh cãi giữa Bộ Công Thương và Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) khi Bộ Công Thương cho phép BHS nhập khẩu 30.000 tấn đường thô của HAGL từ Lào để tinh luyện và sau đó xuất sang Trung Quốc qua cửa khẩu phụ.

 Bước đi này vấp phải sự phản đối dữ dội của VSSA. Hiệp hội cho rằng lợi ích của các công ty đường nội và người dân trồng mía đang bị đe dọa nghiêm trọng, ngành đường có nguy cơ phá sản bởi không thể cạnh tranh nổi với đường nhập từ Lào của HAGL.

 Sự phản đối này cũng là điều dễ hiểu vì BHS là doanh nghiệp có sức ảnh hưởng lớn trong ngành mía đường Việt Nam. BHS được thành lập từ năm 1969 với hoạt động sản xuất kinh doanh chính là trồng mía và sản xuất đường. Công ty hiện đứng thứ hai về quy mô trong số các doanh nghiệp đường đang hoạt động, với mạng lưới phân phối lớn và vị trí ưu thế tại các hệ thống siêu thị trên cả nước. Vì thế, nếu BHS bỏ qua khâu trồng mía và sản xuất đường thô, sẽ khó tránh khỏi ảnh hưởng đến lợi ích của nông dân và ngành mía đường trong nước.

 Hãy khoan bàn về tính đúng sai, nhưng động thái của BHS đã phần nào cho thấy thực trạng yếu kém của ngành mía đường Việt Nam.

 Bằng chứng rõ nhất là hiệu suất sản xuất trung bình của ngành chỉ bằng khoảng 40% so với Brazil, một quốc gia mạnh về mía đường, theo báo cáo ngành của Công ty Chứng khoán SBSC. Điều này dẫn đến giá thành sản xuất đường nội cao hơn nhiều so với giá đường thế giới. Giá thành cao cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đường lậu tuồn về từ Thái Lan với số lượng khá lớn, gần 300.000 tấn/năm.

 Sự yếu kém này một phần là do được nuông chiều. Ngành đường được xem là đứa con cưng khi vừa được Nhà nước bảo hộ, vừa được VSSA che chở. Hằng năm, Bộ Công Thương sẽ cấp hạn ngạch nhập khẩu đường vào cuối niên vụ mía đường (thường rơi vào tháng 8) để tránh tình trạng cạnh tranh giữa đường nội và đường nhập khẩu. Hạn ngạch xuất khẩu sẽ được cấp sau khi Bộ cân đối lượng đường tồn kho trên cả nước.

 Với những ưu tiên này, các công ty đường gần như chiếm vị thế độc quyền, đường nội chỉ phải cạnh tranh với đường nội. Tuy nhiên, như Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú từng phát biểu, “tất cả các đứa con cưng đều hư”.

 Thực vậy, VSSA luôn đòi hỏi nhiều hơn những gì Nhà nước quy định. Đối với VSSA, nhập khẩu bao nhiêu cũng là nhiều và hạn ngạch xuất khẩu bao nhiêu vẫn là ít. Chẳng hạn, năm 2012, sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo về việc thiếu hụt đường và yêu cầu nhập đường về, VSSA đã lên tiếng về 400.000 tấn đường tồn kho và khẳng định không có chuyện thiếu đường. Gần đây nhất về chuyện cấp hạn ngạch xuất khẩu, Bộ Công Thương cho phép xuất khẩu 200.000 tấn đường RS từ tháng 1-6.2014, còn VSSA đề xuất cho phép xuất khẩu không hạn chế số lượng và chủng loại.

 Êm ái trong nệm ấm chăn êm mà Nhà nước và VSSA dọn sẵn, phải thừa nhận rằng hầu hết các doanh nghiệp đường đều giậm chân tại chỗ, tự thỏa mãn với bản thân mà gần như không có động thái nào chuẩn bị cho năm 2015 khi Hiệp định AFTA về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN có hiệu lực.

 Ngoài lý do bảo hộ khiến các công ty mất đi bản năng sinh tồn, sự yếu kém của ngành đường cũng là hậu quả của những điều “chưa tới”: nghiên cứu chưa tới, quy hoạch chưa tới và đầu tư chưa tới.

 Chọn ra một giống mía tốt phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Việt Nam là điều cần thiết, nhưng lại không được Nhà nước chú trọng. Việc đầu tư phát triển vùng nguyên liệu mía cũng là điều thiết yếu, nhưng hiện nay các cánh đồng và nông trường mía đang rất manh mún và nhỏ lẻ, không được quy hoạch để cơ giới hóa các công việc đang phải sử dụng sức người.

 Hội nhập là cơ hội cho những gã khổng lồ nhưng đồng thời lại là thách thức cho những kẻ yếu. Khi mốc 2015 đang cận kề, các công ty đường trong nước mới bắt đầu hoảng sợ. Tính đến ngày 15.5, đã có 37 trong tổng số 41 nhà máy đường ngừng sản xuất với lý do giá nguyên liệu đầu vào quá cao, các nhà máy đường không thể hoạt động.

Sự khốc liệt này chưa thể so sánh với làn sóng đào thải sắp tới. Để là người sống sót, trước mắt các doanh nghiệp đường phải tự bứt phá. Và bước bứt phá mà BHS lựa chọn là bỏ qua khâu trồng mía và sản xuất đường thô.

 Dù còn gây nhiều tranh cãi, nhưng bước đi này của BHS là hợp lý, nếu nhìn nhận một cách khách quan. Bởi lẽ, một khi điểm yếu nhất của quy trình được loại bỏ (tức khâu trồng mía và sản xuất đường thô), năng lực cạnh tranh của BHS sẽ tăng lên đáng kể và Công ty sẽ có thể phát huy được tối đa lợi thế của nhà máy đường tinh luyện công nghệ Nhật duy nhất tại Việt Nam. Đó là cơ sở cho kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2014 khi BHS đặt mục tiêu doanh thu giảm 10% nhưng lợi nhuận sau thuế tăng đến 63,6%.

 Không chỉ vậy, BHS cũng đang chuẩn bị cho một cuộc chiến dài hơi khi góp vốn thành lập Công ty Cổ phần Nghiên cứu và Ứng dụng Mía đường Thành Thành Công. Sự đầu tư này là thiết thực nhằm khắc phục những điểm yếu đang tồn tại trong ngành đường về giống mía, giảm tổn thất đường trong mía.

 Rõ ràng, BHS không nhìn về ngắn hạn mà tính đến sự lâu dài. Với năng lực yếu kém của các công ty đường hiện nay, khả năng phá sản của ngành đường Việt Nam là hoàn toàn có thể xảy ra, khi thuế suất đường giảm còn 0% và việc hạn chế số lượng đường nhập khẩu bị xoá bỏ vào năm 2015 theo Hiệp định AFTA.

 Thay vì phản đối, VSSA nên có cái nhìn tích cực hơn về hành động của BHS để hiểu rằng đó là tương lai của ngành đường Việt Nam

Hồ tiêu Việt Nam, những điều thú vị

Thống kê ngành hồ tiêu Việt Nam

Hồ tiêu là ngoại lệ thú vị so với những mặt hàng nông sản xuất khẩu khác khi giá luôn ở mức cao suốt 8 năm, đặc biệt là 3 năm gần đây.

Hồ tiêu Việt Nam chiếm 30% sản lượng và hơn 50% thị phần giao dịch toàn cầu, điều quan trọng hơn là vai trò và vị trí ngành hồ tiêu Việt Nam từng bước được nâng cao khi các nước bắt đầu lấy giá bán của Việt Nam để tham khảo. Mới đây, Hiệp hội Hồ tiêu thế giới – IPC đề nghị chuyển trụ sở từ Indonesia, quốc gia có lượng hồ tiêu nhiều nhất trước đây, sang Việt Nam.

Chăm sóc vườn cà phê
Tưới hồ tiêu theo phương pháp thủ công

Chạm ngưỡng 1 tỷ USD

5 tháng đầu năm 2014, hồ tiêu vẫn là mặt hàng xuất khẩu có sự phát triển rất mạnh khi tăng 33,6% về lượng và 42,3% về giá trị với 92.000 tấn hồ tiêu xuất khẩu, kim ngạch đạt 645 triệu USD.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), với tiến độ này, cuối năm nay, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu sẽ vượt ngưỡng 1 tỷ USD với lượng xuất khoảng 125.000 – 130.000 tấn. Kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu năm 2013 gần 900 triệu USD.

Như vậy, ngành hàng “bé” như hạt tiêu có cơ hội tham gia vào câu lạc bộ nhóm hàng nông sản xuất khẩu 1 tỷ USD mà 10 năm trước ít ai nghĩ tới. Nhưng giờ đây, hồ tiêu Việt Nam đã chiếm tỷ trọng áp đảo với 30% lượng xuất khẩu và trên 50% thị phần giao dịch thế giới.

Vì vậy, VPA tự tin cho rằng, nếu các doanh nghiệp và nông dân đồng lòng thêm một bước nữa thì mặt hàng hồ tiêu Việt Nam sẽ đủ sức điều tiết giá cả thị trường thế giới. Bởi trong xuất khẩu, đây không phải là mặt hàng nông thủy sản duy nhất có sản lượng và giao dịch chiếm áp đảo, nhưng hồ tiêu lại là ngành hàng đầu tiên mà Việt Nam từng bước xác lập được vai trò và tầm ảnh hưởng trên thị trường giao dịch quốc tế.

Có thể nói, giai đoạn 2011 – 2014 là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam. Theo IPC, với sản xuất và thương mại hồ tiêu toàn cầu như hiện nay, có thể dự báo năm 2015 và đến năm 2020, hồ tiêu Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng và lợi thế cạnh tranh với các nước cả về năng suất và giá thành, nhất là với Indonesia và Brazil, những quốc gia từng có sản lượng cao nhất thế giới trước khi Việt Nam nổi lên chiếm lĩnh.

Giám đốc điều hành IPC, ông Kannan, cho rằng, dù trong hoàn cảnh nào, Việt Nam vẫn là quốc gia sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới. Điều đáng nói, 3 – 4 năm qua, tác động của suy thoái kinh tế tài chính thế giới khiến việc xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản bị sa sút, không ít DN thua lỗ, nhưng ngành hàng hồ tiêu vẫn tăng trưởng mạnh, nhiều kỷ lục về lượng xuất, giá trị kim ngạch và giá bán liên tiếp xác lập qua từng năm.

Khẳng định vai trò

Từ việc chưa có chỗ đứng và thường bị các nhà đầu cơ chi phối giá cả, đến nay vị thế hồ tiêu Việt Nam ngày càng vững vàng trên thương trường quốc tế. Cộng đồng hồ tiêu thế giới nhìn Việt Nam với con mắt tôn trọng, lắng nghe và cùng chia sẻ.

Suốt những năm 1990, Singapore chiếm ưu thế trong giao dịch hồ tiêu với lượng nhập khẩu lớn, lên đến 44.000 tấn/năm, trong đó Indonesia là nguồn cung cấp chính với 50% lượng nhập của Singapore. Nhưng sau đó thương mại hồ tiêu Singapore đã sụt giảm mạnh, xuống còn 10.000 tấn năm 2010.

Theo VPA, mức giảm này chủ yếu là do nhà nhập khẩu đã mua hàng trực tiếp từ các nước sản xuất, nhất là Việt Nam. Hiện nay, thị phần xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam vào châu Âu chiếm 34%, châu Á 36%, châu Mỹ 20% và châu Phi 10%.

Thời gian gần đây Singapore đã có sự thay đổi trong thương mại, nên lượng hồ tiêu nhập vào Singapore tăng trở lại, đạt 20.200 tấn năm 2013, nhưng nguồn cung chủ yếu đã chuyển qua Việt Nam, khi lượng hồ tiêu cung cấp cho Singapore chiếm đến 60%, Indonesia chỉ còn 28%.

Những nước hàng đầu về sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu trước đây như Brazil, Indonesia đã và đang liên kết trong việc xuất nhập khẩu với Việt Nam lên đến hàng chục ngàn tấn/năm.

Giám đốc điều hành IPC, ông Kannan, cũng chính thức đề nghị chuyển trụ sở từ Indonesia sang Việt Nam bởi vị thế và vai trò của hồ tiêu Việt Nam ngày càng có nhiều ảnh hưởng trên thị trường quốc tế.

Sắp tới đây, Việt Nam sẽ là nước chủ nhà đăng cai Hội nghị quốc tế về hồ tiêu do IPC phối hợp với Bộ NN-PTNT tổ chức tại TPHCM. Điều đáng nói, chất lượng, chủng loại mặt hàng hồ tiêu ngày càng phong phú. Từ chỗ chủ yếu xuất khẩu tiêu đen, nay đã xuất khẩu thêm tiêu trắng, tiêu bột, tiêu gia vị thực phẩm tới bàn ăn người tiêu dùng các nước ở châu Âu, Trung Đông, Bắc Mỹ… làm gia tăng giá trị sản phẩm, thu nhập và lợi nhuận ngày càng cao.

5 tháng, xuất khẩu nông lâm thủy sản trên 12 tỷ USDTheo Bộ NN-PTNT, các mặt hàng nông sản xuất khẩu 5 tháng qua tăng trưởng khá là cà phê, nhân điều và hồ tiêu. Trong đó, xuất khẩu 966.000 tấn cà phê với gần 2 tỷ USD kim ngạch, tăng 36,7% về khối lượng và 29% về giá trị so cùng kỳ năm 2013; hạt điều đạt 98.000 tấn với 618 triệu USD, tăng tương ứng 10,8% và 11,5% so với cùng kỳ.Riêng xuất khẩu hồ tiêu, 5 tháng hơn 92.000 tấn với 645 triệu USD kim ngạch, tăng 33,6% về lượng và tăng 42,3% về giá trị. Các mặt hàng thủy sản cũng có bước tăng trưởng khá khi đạt 2,8 tỷ USD, tăng 25%; tương tự, các mặt hàng gỗ chế biến đạt 2,4 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013.Tuy nhiên, những mặt hàng nông sản chủ lực khác gặp khó khăn như: Lượng gạo xuất khẩu 5 tháng giảm 10,2% và 7,3% về giá trị so với cùng kỳ khi chỉ đạt 2,65 triệu tấn và 1,19 tỷ USD kim ngạch. Mặt hàng cao su xuất khẩu giảm 20,2% về lượng và 39,2% về giá trị với 239.000 tấn và 473 triệu USD kim ngạch. Khoai mì (sắn) và trà (chè) cũng suy giảm về lượng và giá xuất.Như vậy, 5 tháng qua, tổng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông lâm và thủy sản đạt hơn 12 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2013.

Theo Công Phiên

Sài Gòn giải phóng